Bản tin thị trường gạo tháng 6/2019

By | 16/07/2019

Trong tháng 6/2019, trên thị trường thế giới, giá gạo diễn biến tăng trong tháng qua, chủ yếu do đồng nội tệ tăng giá tại Ấn Độ và Thái Lan, mặc dù nhu cầu tiêu thụ ảm đạm ở hầu hết các đầu mối xuất khẩu gạo chính ở châu Á.

Trong khi đó, tại thị trường trong nước, giá lúa, gạo tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) giảm trong tháng qua. Thị trường tiếp tục trầm lắng do nhu cầu nhập khẩu hạn chế cùng với lo ngại về nguồn cung vụ hè thu chất lượng không cao. Theo hệ thống cung cấp giá tại địa phương, tại Vĩnh Long, lúa IR50404 vụ Hè Thu giảm 150 đ/kg xuống còn 4.050 đ/kg; gạo IR50404 ở mức 12.000 đ/kg; gạo jasmine ở mức 14.000 đ/kg. Tại An Giang, gạo IR50404 không đổi ở mức 10.000 – 11.000 đ/kg; gạo chất lượng cao ở mức 13.000 đ/kg; gạo thơm đặc sản jasmine ở mức 13.500 đ/kg. Tại Kiên Giang, lúa IR50404 giảm 600 đ/kg xuống còn 4.900 đ/kg; lúa OM 4218 giảm 200 đ/kg xuống còn 5.400 – 5.600 đ/kg; lúa OM 6976 ở mức 5.500 – 5.600 đ/kg; lúa Jasmine giảm 200 đ/kg xuống 5.900 – 6.000 đ/kg.

Tính trong 6 tháng đầu năm, giá lúa, gạo trong nước diễn biến tăng đối với lúa Đông Xuân và giảm đối với lúa Hè Thu. Cụ thể, lúa thường tại An Giang, Vĩnh Long tăng 300 – 500 đ/kg trong vụ Đông Xuân, và giảm 150 đ/kg với vụ Hè Thu đang thu hoạch. Dự báo giá lúa, gạo trong nước tiếp tục giảm do nhu cầu tiêu thụ yếu, chất lượng lúa hè thu kém nên không thu hút khách hàng.

Khối lượng gạo xuất khẩu tháng 6 năm 2019 ước đạt 625 nghìn tấn với giá trị đạt 275 triệu USD, đưa khối lượng xuất khẩu gạo 6 tháng đầu năm 2019 ước đạt 3,39 triệu tấn và 1,46 tỷ USD, giảm 2,8% về khối lượng và giảm 19% về giá trị so với cùng kỳ năm 2018. Tính trong 5 tháng đầu năm, Philippin đứng vị trí thứ nhất về thị trường xuất khẩu gạo của Việt Nam với 35,7% thị phần, với giá trị 423,3 triệu USD và khối lượng 1,06 triệu tấn, gấp 4 lần về khối lượng và gấp 3,4 lần về giá trị so với cùng kỳ năm 2018. Kế đến là Angola (gấp 4,3 lần); Hồng Kông (tăng 64,5%); Bờ Biển Ngà (tăng 61,2%), Ả rập xê út (tăng 53,9) và Nga (tăng 40,8%). Giá gạo xuất khẩu bình quân 5 tháng đầu năm 2019 đạt 429 USD/tấn, giảm 15% so với cùng kỳ năm 2018.

Về chủng loại xuất khẩu, trong 5 tháng đầu năm 2019, giá trị xuất khẩu gạo trắng chiếm 52,1% tổng kim ngạch; gạo Jasmine và gạo thơm chiếm 32,3%; gạo nếp chiếm 8,7% và gạo Japonica, gạo giống Nhật chiếm 6,3%. Các thị trường xuất khẩu gạo trắng lớn nhất của Việt Nam là Phillipines (53,8%), Malaysia (15,1%), Cuba (13%). Với gạo Jasmine và gạo thơm, thị trường xuất khẩu lớn nhất là Bờ Biển Ngà (19,2%) và Phillipines (16,5%). Về gạo nếp, thị trường xuất khẩu lớn là Trung Quốc (47,8%); Phillipines (22,4%). Với gạo Japonica và gạo giống Nhật, thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam là Singapore (35,5%) và Ai Cập (14%).

Nhìn chung, những tháng đầu năm 2019 gặp nhiều bất lợi về thị trường, đặc biệt là tại các thị trường lớn, truyền thống như Trung Quốc, Indonesia, Bangladesh. Nguyên nhân là tồn kho gạo từ vụ cũ ghi nhận ở mức cao tại Trung Quốc, năm bầu cử ở Indonesia. Trong khi đó, Bangladesh không những khôi phục sản xuất sau lũ lụt vào 2017, mà còn lên kế hoạch xuất khẩu gạo trong năm nay. Ngoài ra, các quốc gia như Myanmar, Campuchia, Pakistan đều nỗ lực gia tăng sản lượng gạo xuất khẩu. Trung Quốc không chỉ là nước nhập khẩu gạo lớn nhất mà còn đang dần trở thành một nước xuất khẩu lớn. Trong dự báo tháng 6 của Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA), sản lượng gạo năm 2018 – 2019 ước đạt 499,1 triệu tấn, tăng nhẹ so với mức 494,9 triệu tấn của năm 2017 – 2018. Do đó, dự báo giá gạo thế giới trong thời gian tới vẫn tiếp tục giảm so với cùng kì năm ngoái.

 

MARD

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *