Bản tin thị trường lúa gạo thang 8/2019

By | 12/09/2019

Trên thị trường thế giới, hạn hán tiếp tục làm giảm mạnh nguồn cung từ Thái Lan khiến giá tăng, bên cạnh đó đồng Rupee mất giá cũng tác động làm giảm lượng gạo xuất khẩu của Ấn Độ. Hiện tượng thời tiết El Nino cũng bắt đầu ảnh hưởng đến một số nước, đặc biệt là Philippin và Indonesia. Gạo 5% tấm của Thái Lan tăng từ 395 – 405 USD/tấn lên 405 – 425 USD/tấn (FOB Băng Cốc). Gạo 5% tấm của Việt Nam giảm từ 340 – 350 USD/tấn xuống 335 – 345 USD/tấn (FOB cảng Sài Gòn). Gạo đồ 5% tấm Ấn Độ giảm từ 381 – 384 USD/tấn xuống còn 373 – 374 USD/tấn.

Tháng 8/2019, giá lúa gạo tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) giảm nhẹ so với tháng trước. Theo hệ thống cung cấp giá tại địa phương, tại An Giang, lúa IR50404 giảm 200 đ/kg xuống còn 4.200 đ/kg, lúa OM 5451 tăng 200 đ/kg lên 5.200 đ/kg; lúa OM4218 ổn định ở mức 4.800 đ/kg; gạo IR50404 ở mức 10.000 – 11.000 đ/kg; gạo chất lượng cao ở mức 13.000 đ/kg; gạo thơm đặc sản jasmine ở mức 14.000 đ/kg. Tại Vĩnh Long, lúa Thu Đông sớm vừa mới thu hoạch có giá 4.300 đ/kg; gạo IR50404 ở mức 12.000 đ/kg; gạo jasmine ở mức 14.000 đ/kg. Trong khi tại Bạc Liêu, lúa Hè Thu muộn có giá 4.300 – 4.500 đ/kg. Tại Kiên Giang, lúa IR50404 ổn định ở mức 5.300 đ/kg; lúa OM 4218 ở mức 5.500 – 5.600 đ/kg, giảm 100 đ/kg; lúa OM 6976 ở mức 5.400 – 5.600 đ/kg; lúa Jasmine ở mức 5.800 – 6.000 đ/kg. Dự báo giá lúa, gạo trong nước có thể giảm nhẹ do nhu cầu tiêu thụ tháng tới ảm đạm.

Khối lượng gạo xuất khẩu tháng 8 năm 2019 ước đạt 591 nghìn tấn với giá trị đạt 265 triệu USD, đưa khối lượng xuất khẩu gạo 8 tháng đầu năm 2019 ước đạt 4,54 triệu tấn và gần 2 tỷ USD, tăng 0,3% về khối lượng nhưng giảm 14,9% về giá trị so với cùng kỳ năm 2018. Tính trong 7 tháng đầu năm Philippin đứng vị trí thứ nhất về thị trường xuất khẩu gạo của Việt Nam với 34,5% thị phần, khối lượng xuất khẩu đạt 1,46 triệu tấn tương ứng 589,4 triệu USD, gấp 3,2 lần về khối lượng và gấp 2,7 lần về giá trị so với cùng kỳ năm 2018. Các thị trường có giá trị xuất khẩu gạo tăng mạnh gồm Bờ Biển Ngà (tăng 64,5%), Úc (tăng 63,9%), Hồng Kông (tăng 43,5%), Ả rập xê út (tăng 31,3) và Irắc (tăng 24,8%). Giá gạo xuất khẩu bình quân 7 tháng đầu năm 2019 đạt 433 USD/tấn, giảm 14,7% so với cùng kỳ năm 2018.

Về chủng loại xuất khẩu, trong 7 tháng đầu năm 2019, giá trị xuất khẩu gạo trắng chiếm 48,4% tổng kim ngạch; gạo jasmine và gạo thơm chiếm 37,7%; gạo nếp chiếm 7,7%; và gạo japonica và gạo giống Nhật chiếm 5,5%. Các thị trường xuất khẩu gạo trắng lớn nhất của Việt Nam là Phillipines (51,1%), Malaysia (13,6%), Cuba (13,5%). Với gạo Jasmine và gạo thơm, thị trường xuất khẩu lớn nhất là Phillipines (21,5%) và Bở Biển Ngà (18,4%). Về gạo nếp, thị trường xuất khẩu lớn là Trung Quốc (52,9%); Phillipines (18,8%). Với gạo Japonica và gạo giống Nhật, thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam là Singapore (29,0%) và Ai Cập (11,4%).

Thị trường lúa gạo trong ngắn hạn dự báo vẫn sẽ gặp khó khăn do việc xuất khẩu sang Trung Quốc và Phillipines gặp nhiều hạn chế. Thực tế, sau thời gian dài giảm, nhu cầu gạo từ thị trường Trung Quốc vẫn chưa có dấu hiệu tăng trưởng trở lại. Trong khi đó, sau gần nửa năm thay đổi chế độ hạn ngạch sang thuế quan giúp thúc đẩy hoạt động nhập khẩu gạo, lượng tồn kho của Phillipins đang ở mức tương đối cao. Song song với đó, nông dân trồng lúa nước này đang yêu cầu chính phủ hỗ trợ tiêu thụ lúa gạo do thiệt hại gây ra từ mở cửa nhập khẩu, nên trong thời gian tới, hoạt động xuất khẩu gạo của Việt Nam sang Philippines dự báo sẽ bị chững nhẹ.

Xuất khẩu gạo sang EU dự báo sẽ tăng do tác động của Hiệp định EVFTA được ký kết vào ngày 30/6/2019. Trước đây Việt Nam chỉ xuất khẩu được khoảng hơn 20 nghìn tấn gạo/năm sang EU với mức thuế dao động khoảng 65-211 EUR/tấn (ước tính khoảng 50% giá trị xuất khẩu), nhưng với mức hạn ngạch thuế suất 0% cho 80 nghìn tấn, cao gần 4 lần so với thực tế xuất khẩu hiện tại, dự kiến hoạt động xuất khẩu gạo của Việt Nam sang EU sẽ tăng trưởng mạnh từ những tháng cuối năm nay trở đi. Tuy nhiên do EU là một thị trường khó tính, để tận dụng cơ hội mới này một cách thành công, doanh nghiệp gạo xuất khẩu cần nâng cao chất lượng, kiểm soát các quy định SPS/TBT, quy định về truy xuất nguồn gốc, đẩy mạnh xây dựng thương hiệu, cũng như làm quen với các thủ tục giấy tờ liên quan (ví dụ, các loại gạo phải thuộc một trong 8 loại được phép hưởng miễn thuế và có đầy đủ giấy chứng nhận đúng chủng loại được cấp bởi cơ quan có thẩm quyền…)[1] … trong thời gian tới.,

[1] Để hưởng miễn thuế nhập khẩu theo hạn ngạch, gạo phải thuộc một trong số các loại gạo thơm sau: Hoa nhài 85, ST5, ST20, Nang Hoa 9, VD 20, RVT, OM4900, OM5451 và Tai nguyen Cho Dao

Nguồn: MARD

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *