Chuỗi giá trị ngành hàng cà phê năm 2017 (trường hợp nghiên cứu tại Lâm Đồng)

By | 19/06/2019

I. Tổ chức chuỗi giá trị cà phê tại Lâm Đồng

Kết quả khảo sát chuỗi giá trị của ngành cà phê tại Lâm Đồng hiện tại có 2 giá trị và các tác nhân trong chuỗi bao gồm: (i) Người nông dân trồng cà phê; (ii) Đại lý nhỏ tại địa phương thu mua trực tiếp từ nông dân; (iii) Doanh nghiệp thu mua cà phê từ các đại lý địa phương; (iv) Doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu cà phê.

Kênh 1: Nông dân -> Doanh nghiệp thu mua -> Doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu  

Là kênh ngắn nhất trong chuỗi giá trị cà phê tại Lâm Đồng, có sự tham gia của 3 tác nhân là nông dân, doanh nghiệp thu mua và doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu. Hình thức tổ chứcc, các doanh nghiệp chế biến/xuất khẩu lớn ký hợp đồng liên kết theo mô hình doanh nghiệp – đại lý – nông dân, theo đó, doanh nghiệp sẽ thông qua hệ thống doanh nghiệp thu mua (thực chất là đại lý với quy mô lớn) thu mua cà phê từ nông dân, phân loại và vận chuyển cà phê về các nhà máy của doanh nghiệp. Trong chuỗi liên kết này, nông dân được tổ chức thành các nhóm hộ, tổ hợp tác, hợp tác xã để có đủ năng lực liên kết trực tiếp với các doanh nghiệp cà phê (thường là các nhóm sản xuất cà phê bền vững).

Các doanh nghiệp thu mua cà phê tại địa phương ký hợp đồng với doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu. Doanh nghiệp thu mua tại đại phương có thể ký hoặc không ký hợp đồng với nông dân, nhưng họ sẽ có các hình thức khác nhau để thu hút nông dân bán cà phê cho mình. Một số doanh nghiệp điển hình thực hiện mô hình liên kết này tại tỉnh Lâm Đồng được khảo sát như: Công ty Simexco (2/9), Công ty ACOM, Công ty OLAM.

Doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu thường đưa ra các yêu cầu đối với các doanh nghiệp thu mua về các tiêu chuẩn bền vững (4C, UTZ, FairTrade, Rainforest Alliance), các doanh nghiệp thu mua sẽ phân loại theo cỡ sàn tiêu chuẩn, % hạt đen vỡ, % tạp chất… Tuy nhiên, mặc dù các doanh nghiệp có tổ chức các nhóm hộ sản xuất cà phê bền vững theo tiêu chuẩn, nhưng lượng thu mua thì lại rất thấp (khoảng 30%), số còn lại vẫn bán như các loại cà phê bình thường làm cho nông dân không mặn mà trong áp dụng tiêu chuẩn cà phê bền vững.

Kênh 2: Nông dân -> Đại lý thu mua -> Doanh nghiệp thu mua -> Doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu

Trong kênh thị trường này, nông dân bán cà phê cho các đại lý nhỏ, sau đó đại lý sẽ bán doanh nghiệp thu mua, doanh nghiệp này sẽ phân loại và bán cho các doanh nghiệp lớn để chế biến, xuất khẩu.

Kết quả khảo sát cho thấy, đây là kênh thị trường phổ biến ở Lâm Đồng. Các đại lý sẽ mua cả 2 loại cà phê quả tươi (trong thời gian thu hoạch) và nhân xô quanh năm. Giao dịch giữa đại lý và nông dân thường không qua hợp đồng, hoặc chỉ có hợp đồng miệng. Nhiều đại lý rằng buộc nông dân bán cà phê cho mình bằng việc ứng trước phân bón và cho vay vốn. Đối với các đại lý thu mua quả tươi từ nông dân (100% đối với cà phê Arabica), trước khi thu hoạch, đại lý sẽ đến vườn cà phê của nông dân để xem chất lượng quả và thỏa thuận giá, sau đó nông dân sẽ thu hoạch quả cà phê tươi và phải vận chuyển đến kho của các đại lý. Các đại lý thường không quan tâm đến sản xuất cà phê theo quy trình bền vững hay không bền vững, họ quan tâm nhiều hơn tới tỷ lệ chín, nhưng cà phê quả tươi này thường sẽ được bán cho các doanh nghiệp thu mua để thực hiện chế biến ướt hoặc do chính đai lý thực hiện chế biến.

Đối với các đại lý thu mua cà phê nhân xô, đã được nông dân chế biến qua phương pháp chế biến khô, nông dân cũng sẽ phải chịu trách nhiệm vận chuyển cà phê đến các kho của đại lý, sau đó đại lý đánh giá và phân loại chất lượng hạt cà phê và thỏa thuận giá. Giá cà phê được thỏa thuận theo giá thị trường, nhưng các đại lý này vẫn giữ quyền quyết định phụ thuộc vào thông báo giá hàng ngày của các công ty.

Phương thức thanh toán các đại lý sẽ thực hiện trả tiền mặt ngay cho người nông dân, hoặc sau khi trừ các khoản thanh toán các khoản nợ về phân bón, thuốc trừ sâu cho người nông dân.

Sau khi thu mua cà phê, các đại lý sẽ bán lại cho doanh nghiệp thu mua (đối với quả cà phê tươi) hoặc tích trữ hàng chờ giá tăng rồi bán cho doanh nghiệp chế biến/xuất khẩu. Doanh nghiệp thu mua cà phê thực chất là các đại lý trung gian lớn hơn, họ sẽ không trực tiếp mua cà phê từ nông dân mà thường thu gom cà phê từ các đại lý tại địa phương. Một số doanh nghiệp có đầu tư máy móc để sơ chế và bán các loại cà phê thành phẩm, cà phê bột như Công ty Hân Vinh tại Lâm Đồng (là công ty trong mẫu khảo sát). Tuy nhiên, phần lớn các doanh nghiệp này chỉ thu mua nguyên liệu rồi bán lại cho các doanh nghiệp xuất khẩu.

Các doanh nghiệp chế biến và xuất khẩu thường căn cứ vào giá trên các sàn để quyết định giá thu mua của các công ty thu mua địa phương hoặc các đại lý. Các giao dịch của các doanh nghiệp xuất khẩu thường được thực hiện trên các sàn kỳ hạn. Chính vì thế, giá cà phê thu mua trong nước sẽ biến động liên tục theo những biến động trên các sàn.

II. Hiệu quả kinh tế của các tác nhân trong chuỗi giá trị cà phê tại Lâm Đồng

  1. a. Phân bổ chi phí – lợi nhuận trong chuỗi giá trị cà phê tại Lâm Đồng

Tại Lâm Đồng nhóm nghiên cứu đã điều tra 2 chuỗi giá trị cà phê là Robusta (cà phê vối) và Arabica (cà phê chè).

Tổng hợp dữ liệu điều tra của các tác nhân trong chuỗi giá trị cà phê ở Lâm Đồng, chi phí, lợi nhuận của các tác nhân tại địa bàn khảo sát được thể hiện trong 2 bảng dưới đây.

Bảng 1: Chi phí – lợi nhuận trên 1 kg cà phê nhân xô của các tác nhân trong chuỗi giá trị cà phê Robusta

Tác nhân Chi phí gộp (đồng/kg) Chi phí Giá bán (đồng/kg) Lợi nhuận
Giá trị (đồng/kg) Tỷ lệ (%) Giá trị (đồng/kg) Tỷ lệ (%)
Nông dân  19.252  19.252 54%  37.000  17.748 91%
Đại lý địa phương  38.000  1.000 3%  38.300  300 2%
Công ty thu mua  38.500  200 1%  38.800  300 2%
Công ty chế biến, xuất khẩu  53.800  15.000 42%  55.000  1.200 6%
Tổng  35.452 100%  19.548 100%

*Ghi chú: Quá trình chế biến đã phối trộn các loại cà phê

Nguồn: Kết quả điều tra của IPSARD, 2017

Đối với cà phê Robusta, nông dân bán cà phê nhân xô (chế biến khô) cho hệ thống đại lý địa phương. Đại lý địa phương hoặc sẽ bán cho doanh nghiệp thu mua hoặc bán trực tiếp cho doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu. Sau đó, công ty chế biến sẽ thực hiện việc đưa cà phê vào lò sấy, lọc và phân loại hạt cà phê theo các tiêu chuẩn và bán lại cho công ty xuất khẩu, hoặc công ty phân phối tiêu thụ tại thị trường trong nước.

Trong các tác nhân tham gia chuỗi giá trị cà phê Robusta, nông dân là tác nhân có tỷ trọng chi phí lớn nhất chiếm 54% và tỷ trọng lợi nhuận cao nhất 91%. Trong khi đó, đại lý và doanh nghiệp thu mua tỷ trọng chi phí ít lần lượt chỉ đạt 3% và 1% và lợi nhuận của 2 tác nhân này là 2%. Doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu có lợi nhuận là 6% và chi phí 42%.

Bảng 2: Chi phí – lợi nhuận trên 01 kg cà phê của các tác nhân trong chuỗi giá trị cà phê Arabica

Tác nhân Chi phí gộp (đồng/kg) Chi phí Giá bán (đồng/kg) Lợi nhuận
Giá trị (đồng/kg) Tỷ lệ (%) Giá trị (đồng/kg) Tỷ lệ (%)
Nông dân  6.225  6.225 13%  10.000  3.775 14%
Đại lý địa phương  10.050  50 0,1%  10.100  50 0,2%
Công ty thu mua  50.200  40.100 84,9%  60.000  9.800 35%
Công ty chế biến xuất khẩu cà phê  61.000  1.000 2%  75.000  14.000 50,8%
Tổng  47.375 100%  27.625 100%

*Ghi chú: Quá trình chế biến đã phối trộn các loại cà phê

Nguồn: Kết quả điều tra IPSARD, 2017

Đối với cà phê Arabica, người nông dân bán cà phê quả tươi cho hệ thống đại lý địa phương toàn bộ chi phí vận chuyển, bốc dỡ sẽ do doanh nghiệp chế biến thu mua và người nông dân chịu. Sau đó, công ty thu mua sẽ thực hiện việc công đoạn chế biến ướt và bán lại nhân xô cho công ty xuất khẩu, hoặc công ty chế biến phân phối thị trường trong nước.

Trong các tác nhân tham gia chuỗi giá trị cà phê Arabica, công ty thu mua là tác nhân có tỷ trọng chi phí lớn nhất 84,9% nhưng lợi nhuận chỉ 35%, nông dân có tỷ trọng chi phí là 13% và lợi nhuận là 14 %, các đại lý trung gian chi phí là 0,1% và lợi nhuận là 0,2% lợi nhuận, nhóm này chỉ thực hiện vai trò làm cầu nối giữa nông dân và công ty thu mua trong chuỗi giá trị. Công ty chế biến, xuất khẩu cà phê Arabica chi phí khá thấp chỉ 2%, nhưng lợi nhuận cao nhất chiếm 50,8%.

  1. Nông dân

Đối với cà phê Robusta chi phí vật tư (phân bón) và chi phí công lao động là 2 chi phí chiếm tỷ trọng cao nhất trong sản xuất cà phê của nông hộ. Trong đó, chi phí công lao động chiếm tới 58% và vật tư chiếm 48%. Đối với cà phê Arabica, chi phí công lao động chiếm tỷ trọng lớn nhất 66%, vật tư đầu vào chỉ chiếm 34%.

Hình 14: Cơ cấu chi phí sản xuất trung bình trên 1ha của nông dân tại Lâm Đồng

Nguồn: Điều tra của IPSARD tại Lâm Đồng, 2017

Chi tiết các khoản chi phí được trình bày cụ thể như sau:

– Đối với cà phê Robusta:

  • Trong các loại vật tư đầu vào, chiếm tỷ trọng lớn nhất là chi phí phân bón với 31,7%. bao gồm cả phân bón vô cơ (với 4 loại Ure, Sunphat, lân NPK và Kali) và phân bón hữu cơ vi sinh. Chi phí về giống chiếm 0,7% do hàng năm nông dân chỉ trồng bổ sung. Chi phí cho thuốc BVTV chiếm 2,2% giảm hơn nhiều so với trước kia đặc biệt đối với những hộ sản xuất cà phê bền vững. Một số chi phí khác như: điện, nhiên liệu chiếm 7,4%.
  • Chi phí lao động chiếm 58%, trong đó chi phí lớn nhất cho thu hoạch chiếm khoảng 40%.

Bảng 3: Chi phí sản xuất bình quân 1 ha cà phê Robusta của người nông dân tại Lâm Đồng (Đức Trọng, Lâm Hà)

  Hạng mục Trị giá
(1.000 đồng/kg)
Tỷ trọng
(%)
I Chi phí vật tư 28.381 42,1
1 Giống 495 0,7
2 Phân bón:  21.386 31,7
2.1 Ure 3.600 5,3
2.2 Sunphat 2.126 3,2
2.3 Lân 2.925 4,3
2.4 Kali 4.335 6,4
2.5 Hữu cơ vi sinh 8.400 12,5
3 Thuốc BVTV  1.500 2,2
4 Điện, nhiên liệu  5.000 7,4
II Công lao động 39.000 57,9
1 Cắt, tỉa cành  13.500 20,0
2 Bơm nước  3.000 4,5
3 Làm cỏ, bón phân, vét bồn tưới  7.500 11,1
4 Thu hái, phơi sấy  15.000 22,3
  Tổng chi phí  67.381 100,0

Nguồn: Điều tra của IPSARD tại Lâm Đồng, 2017

Như vậy, chi phí trung bình 1 ha Robusta là 67,38 triệu đồng/ha, bình quân 1 kg cà phê nhân xô là 19.252 đồng/kg. Giá cà phê Robusta nhân xô trung bình tại thời điểm điều tra là 37.000 đồng/kg, nông dân có lợi nhuận là 17.748 đồng/kg. Năng suất trung bình đạt khoảng 3,5 tấn/ha cà phê nhân xô, doanh thu trồng cà phê đạt khoảng 130 triệu đồng/ha, trừ chi phí lợi nhuận 62 triệu đồng/ha. Đối với các hộ trồng cà phê với quy mô lớn trên 20 ha, lợi nhuận lên tới hàng tỷ đồng. Tuy nhiên, theo kết quả khảo sát, tỷ lệ hộ có quy mô trên 20 ha khá nhỏ (tỷ lệ hộ trồng cà phê canh tác trên diện tích dưới 2 ha vẫn chiếm đến 97% tại Lâm Đồng), bên cạnh đó sản xuất cà phê chịu nhiều rủi ro như dịch bệnh, thời tiết, biến động giá trên thị trường.

Bảng 4: Hiệu quả kinh tế tính trên 1 kg cà phê Robusta tại Lâm Đồng (đồng/kg)

Chỉ tiêu Số tiền Tỷ lệ trên doanh thu (%)
Giá bán cà phê 37.000 100
Chi phí 19.252 52
Lợi nhuận 17.748 48

Nguồn: Điều tra của IPSARD tại Lâm Đồng, 2017

– Đối với cà phê Arabica:

Trong các loại vật tư đầu vào, chiếm tỷ trọng lớn nhất là chi phí giống chiếm tới 16,1%. Do giống Arabica tại Lạc Dương là giống cà phê Moka và Bourbon được cải tạo để thích nghi với điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng và tăng khả năng chống chịu sâu bệnh và giá mùa giống cao. Ngoài ra, cà phê Arabica cũng sử dụng cả phân bón vô cơ (chủ yếu là NPK – chiếm 9%) và phân bón hữu cơ vi sinh 6%. Chi phí về thuốc BVTV và điện, nhiên liệu chiếm một phần khá nhỏ, khoảng 1,1% và 3,6% do Arabica trồng trên vùng núi cao, thời tiết ôn hòa, nhu cầu tưới nước ít hơn cà phê Robusta.

Chi phí lao động thấp chiếm 13% do cà phê arabica tốn ít công chăm sóc hơn cà phê robustat. Ngoài ra, công phơi sấy sau thu hoạch ít hơn cà phê robusta do nông dân bán quả tươi cho đại lý hoặc doanh nghiệp thu mua.

Bảng 5: Chi phí sản xuất bình quân 1ha cà phê Arabica của người nông dân tại Lâm Đồng (Lạc Dương)

  Hạng mục Trị giá
(1.000 đồng/kg)
Tỷ trọng
(%)
I Chi phí vật tư  16.800 33,7
1 Giống  8.000 16,1
2 Phân bón: vô cơ (NPK)  4.500 9,0
3 Phân bón: hữu cơ  3.000 6,0
4 Thuốc BVTV  300 0,6
5 Điện, nhiên liệu  1.000 2,0
II Công lao động  33.000 66,3
1 Cắt, tỉa cành  15.000 30,1
3 Làm cỏ, bón phân, vét bồn tưới  7.500 15,1
4 Thu hái  10.500 21,1
Tổng  49.800 100

Nguồn: Điều tra của IPSARD tại Lâm Đồng, 2017

Chi phí bình quân trên 1 ha cà phê Arabica khoảng 28,1 triệu đồng/ha, và tính trên 1 kg cà phê quả tươi là 6.225 đồng/kg. Giá cà phê Arabica quả tươi trung bình tại thời điểm điều tra là 10.000 đồng/kg, trừ hi phí nông dân thu lợi nhuận là 3.775 đồng/kg. Với năng suất trung bình vào khoảng 8-10 tấn cà phê quả tươi/ha, doanh thu trồng cà phê đạt khoảng 80 triệu đồng/ha, trừ chi phí lợi nhuận 30,2 triệu đồng/ha.

Lợi nhuận của cà phê Arabica thấp hơn Robusta do nông dân không có công nghệ chế biến phải bán quả tươi cho các đại lý, trong khi giá Arabica quả tươi 10.000 đồng/kg, cà phê nhân xô là  60.000-70.000 đồng/kg.

Bảng 6: Hiệu quả kinh tế tính trên 1 kg cà phê Arabica tại Lâm Đồng (đồng/kg)

Chỉ tiêu Số tiền Tỷ lệ trên doanh thu (%)
Giá bán cà phê 10.000 100
Chi phí 6.225 62
Lợi nhuận 3.775 38

Nguồn: Điều tra của IPSARD tại Lâm Đồng, 2017

Có 100% số hộ đánh giá về lợi ích do canh tác theo tiêu chuẩn bền vững như: cho ra hạt cà phê chất lượng tốt hơn (82%); giúp tăng năng suất cây cà phê (82%); giá bán cà phê thu hoạch cao hơn (80%); giảm chi phí vật tư đầu vào (74%); thân thiện với môi trường (70%); giảm chi phí lao động (70%); tiêu thụ cà phê dễ dàng hơn (69%)…

  1. Đại lý thu mua địa phương

Các đại lý nhỏ thu mua ở địa phương không phải bỏ ra nhiều chi phí do chi phí vận chuyển và tồn kho do nông dân và doanh nghiệp thu mua trả. Các khoản chi phí của đại lý bao gồm: chi phí mua cà phê quả tươi hoặc cà phê nhân xô, tiền chênh lệch trả cho trung gian (nếu có), chi phí vận chuyển và lưu kho (rất ít). Theo kết quả điều tra, chi phí tăng thêm mà đại lý nhận được khoảng 1.000 đồng/kg đối với cà phê Robusta và 50 đồng/kg đối với cà phê Arabica. Theo đó, với giá cà phê chênh lệch khoảng 100-1.300 đồng/kg, đại lý địa phương thu lợi nhuận khoảng 50 – 300 đồng/kg.

Tính trên 1kg cà phê, lợi nhuận của đại lý thu được rất nhỏ nhưng trên thực tế, lượng thu mua cà phê của đại lý địa phương rất lớn nên lợi nhuận đại lý địa phương thu được cũng rất lớn. Trung bình thu gom 1 tấn cà phê, đại lý địa phương thu được lợi nhuận là 300 nghìn đồng đối với cà phê Robusta và 50 nghìn đồng đối với cà phê Arabica. Trong khi đó, chỉ tính trong thời điểm vụ thu hoạch (từ tháng 11 – tháng 1), một đại lý địa phương có thể thu mua trên 200 tấn cà phê, lợi nhuận thu được khoảng 10-60 triệu đồng/vụ, tổng lợi nhuận hàng năm của một đại lý nhỏ đạt 30 – 100 triệu đồng.

  1. Doanh nghiệp cà phê:

Đối với cà phê Robusta: kết quả tính toán trên bảng 2, lợi nhuận của công ty thu mua cà phê đạt 300 đồng/kg. Đối với một doanh nghiệp cà phê thu mua bình quân trong 3 tháng thu hoạch có thể thực hiện luân chuyển mua bán hơn 1.000 tấn cà phê, như vậy, doanh nghiệp có thể thu tổng lợi nhuận khoảng 1 – 1,2 tỷ đồng. Trong khi đó, doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu chi phí 15.000 đồng/kg và lợi nhuận 1.200 đồng/kg. Như vậy, bình quân 1 tấn cà phê doanh nghiệp thu lợi nhuận 1,2 triệu đồng.

Đối với cà phê Arabica: Theo kết quả tính toán tại bảng 3, lợi nhuận trên 1 kg cà phê của công ty thu mua là 9.800 đồng/kg, chi phí là 40.100 đồng/kg là chi phí liên quan đến thu gom hàng, chế biến cà phê quả tươi, khấu hao máy móc thiết bị, đầu tư nhà xưởng, văn phòng và công lao động… Tuy nhiên, vào vụ thu hoạch, các công ty thu mua có công suất chế biến trung bình 100 tấn cà phê ướt/ngày có thể thu tổng lợi nhuận khoảng 1,2 – 1,6 tỷ đồng. Trong khi đó, doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu bỏ ra chi phí 1.000 đồng/kg và thu được lợi nhuận 14.000 đồng/kg. Như vậy, cứ một tấn cà phê doanh nghiệp thu được lợi nhuận 1,4 triệu đồng. Các doanh nghiệp cà phê đạt doanh thu cao nhưng phải đầu tư vốn lớn (mua máy móc, thiết bị, đầu tư nhà xưởng, văn phòng, vốn lưu động).

III. Những khó khăn đối với sản xuất kinh doanh cà phê

  1. Các yếu tố khách quan

Những năm qua, biến đổi khí hậu (BĐKH), sự nóng lên toàn cầu, đã tạo nên các hiện tượng thời tiết cực đoan ngày càng ảnh hưởng nghiêm trọng đến năng suất, sản lượng và phát triển bền vững của ngành cà phê. BĐKH khiến cho ngành cà phê Việt Nam không thể sản xuất theo kiểu truyền thống như trước (tưới lãng phí nước, lạm dụng phân bón…) mà cần có giải pháp đồng bộ về quy hoạch, áp dụng các giống mới, tưới tiết kiệm nước, xen canh các cây trồng, quản lý dịch hại tổng hợp, đề cao hơn nhận thức, đặc biệt là kỹ năng sản xuất cà phê của nông hộ…

Trong niên vụ cà phê vừa qua, nông dân trồng cà phê tại Lâm Đồng phải đối mặt với một số rủi ro sản xuất như sau: Rủi ro do thời tiết; do dịch bệnh; do ô nhiễm; do thị trường; do thể chế chính sách; do khâu hậu cần và do quản lý của các tác nhân tham gia.

Hình 15: Khó khăn của người nông dân trồng cà phê (% lựa chọn trên tổng mẫu)

Nguồn: Điều tra của IPSARD tại Lâm Đồng, 2017

Theo khảo sát, các yếu tố khó khăn phổ biến nhất đối với người nông dân sản xuất cà phê là dịch bệnh (96% số người lựa chọn). Mặc dù công tác tuyên truyền, cảnh báo, khuyến cáo tại địa phương hiện nay tương đối tốt, giúp bà con chủ động phòng tránh được thiệt hại từ các loại dịch bệnh như rệp sáp, rỉ sắt, khô cành… song thiệt hại vẫn xảy ra ở mức độ nào đó và người dân vẫn phải tốn chi phí cho việc phòng chống dịch, chi phí thuốc BVTV… Đặc biệt, trong niên vụ sản xuất vừa qua, tại Lâm Đồng bùng phát dịch bệnh bọ xít muỗi khiến sản lượng cà phê dự kiến giảm tới 30% so với cùng kỳ năm trước.

Các tác nhân khác cũng ảnh hưởng mạnh tới việc sản xuất của người trồng cà phê như giá bán thấp và năng suất giảm do thời tiết không thuận lợi (94%), công tác thủy lợi chưa tốt ảnh hưởng tới việc tưới tiêu cây cà phê vào các giai đoạn sinh trưởng quyết định cũng sẽ ảnh hưởng lớn đến sản xuất cà phê (90%). Ngành cà phê Việt Nam có đặc thù là giá cả biến động theo giá giao dịch tại các sàn kỳ hạn London và NewYork, trong khi các sàn chứng khoán này tương đối nhạy cảm trước bất kỳ thông tin thị trường nào cũng sẽ kéo theo biến động giá cà phê giao dịch. Nhất là khi vào vụ thu hoạch, giá cà phê thường xuống thấp do thị trường tin rằng nguồn cung cà phê từ Việt Nam sẽ mạnh lên. Thông thường nông dân sẽ giữ một lượng hàng nhất định chờ giá lên cao rồi mới bán nhưng việc này dẫn đến tăng các chi phí về kho bãi, bảo quản và tăng tỷ lệ hao hụt cà phê qua thời gian.

Các yếu tố đầu vào khác cũng ảnh hưởng không nhỏ tới sản xuất của người trồng cà phê là giá vật tư đầu vào cao (81%) và tình trạng giống, phân bón giả chưa được quản lý chặt chẽ cũng như chưa có chế tài răn đe nghiêm khắc (75%).

  1. Thiếu hụt lao động

Quá trình canh tác, chăm sóc và thu hoạch cây cà phê đòi hỏi rất nhiều công lao động. Để thực hiện các khâu chăm sóc làm cỏ, bón phân, tưới nước, phòng trừ sâu bệnh hại v.v… và thu hoạch trong một năm, trung bình 1 ha cà phê cần từ 300 – 400 công lao động, trong đó riêng công thu hái chiếm tới trên 50%. Trước đây vào thời kỳ thu hoạch cà phê thường có hàng ngàn lao động từ các tỉnh ven biển miền Trung và đồng bằng sông Cửu long đến vùng Tây nguyên để tham gia thu hái cà phê, nhưng bắt đầu từ một hai năm trở lại đây số lao động ở các vùng này đến Tây nguyên vào mùa thu hoạch cà phê đã giảm đi rõ rệt. Do mang tính chất thời vụ rất khắt khe, trong khoảng thời gian thu hái rất ngắn chỉ khoảng 2 tháng đòi hỏi số công lao động rất lớn chiếm trên 50% số công trong năm đã làm cho tình trạng thiếu hụt lao động càng trở nên trầm trọng, từ đó đẩy giá ngày công lên cao. Trước sức ép về thiếu hụt lao động và chi phí ngày công tăng cao, để giảm chi phí công thu hái người nông dân có xu hướng giảm số lần thu hái xuống còn một đến 2 lần dẫn đến chất lượng cà phê bị giảm sút do thu hái quả xanh và thiếu hụt điều kiện phơi xấy.

Quá trình công nghiệp hóa không những không thu hút được lực lượng lao động đến từ các vùng khác mà ngay cả một bộ phận lực lượng lao động thanh niên trẻ, khỏe từ các vùng trồng cà phê về các thành phố, khu công nghiệp làm cho lực lượng lao động trong ngành cà phê ngày càng thiếu hụt trầm trọng. Như vậy có thể thấy trước rằng trong những năm tới việc thiếu hụt lao động sẽ là một áp lực nặng nề cho người trồng cà phê và chi phí công lao động sẽ ngày càng chiếm một tỷ lệ lớn trong các khoản chi phí sản xuất. Lợi thế cạnh tranh về giá ngày công lao động rẻ trong ngành cà phê Việt nam so với các nước khác sẽ không còn.

  1. Sản xuất nhỏ lẻ, phân tán

Trên 80% diện tích cà phê cả nước do các hộ nông dân trực tiếp quản lý, số diện tích cà phê còn lại thuộc các doanh nghiệp Nhà nước quản lý, nhưng sau khi thực hiện cơ chế giao khoán đến từng người lao động thì số diện tích này thực chất cũng do hộ nông dân quản lý.

So với nhiều nước trồng cà phê trên thế giới thì các hộ nông dân trồng cà phê của Việt nam đều thuộc dạng nhỏ, lẻ, diện tích hẹp trung bình từ 0,5 – 1ha và mang tính tương đối độc lập. Số hộ gia đình có diện tích lớn trên 5 ha và sản xuất dưới hình thức trang trại chiếm một tỷ lệ không đang kể. Do hình thức tổ chức sản xuất dưới dạng hộ gia đình phân tán, nhỏ lẻ và tương đối độc lập dẫn đến suất đầu tư/ tấn sản phẩm của từng hộ gia đình nói riêng và toàn ngành cà phê nói chung tăng cao do hộ gia đình nào cũng phải tự mua sắm máy bơm, phương tiện vận chuyển, đầu tư xây dựng sân phơi, kho tàng, v.v… nhưng hiệu quả sử dụng thấp vì chỉ sử dụng trong một khoảng thời gian ngắn trong năm từ đó làm tăng chí phí sản xuất dẫn đến hiệu quả kinh tế thấp. Việc tiếp cận với những tiến bộ khoa học công nghệ cũng như các dịch vụ khác như vay vốn tín dụng, ngân hàng v.v… cũng hết sức khó khăn, do diện tích nhỏ, manh mún và khả năng tài chính hạn hẹp. Nguồn tài nguyên bị khai thác cạn kiệt, trong đó đặc biệt là nguồn nước ngầm và tài nguyên rừng.

Cũng do hình thức tổ chức theo kiểu sản xuất, nhỏ lẻ, phân tán và tính độc lập tương đối của các hộ gia đình nên sản phẩm làm ra không những chất lượng không cao mà còn không ổn định do điều kiện hiểu biết và mức độ đầu tư cho khâu thu hái chế biến khác nhau, từ đó làm cho chất lượng cà phê của toàn ngành bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Việc xây dựng thương hiệu, chứng chỉ chất lượng hàng hóa khó có thể thực hiện được.

Nguồn: VNSAT (IPSARD)

Tải báo cáo đầy đủ tại đây

Bao cao dieu tra coffee value chain – Lam Dong

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *