Chuỗi giá trị ngành hàng lúa gạo Việt Nam 2017 (trường hợp nghiên cứu tại Đồng Tháp)

By | 19/06/2019

I. Tổ chức chuỗi giá trị lúa gạo tại Đồng Tháp

Đã có nhiều nghiên cứu về chuỗi giá trị của ngành lúa gạo khu vực ĐBSCL. Các nghiên cứu đều chỉ ra thương lái và công ty xuất khẩu gạo là những chủ thể đóng vai trò quan trọng trong chuỗi giá trị gạo của vùng ĐBSCL. Các công ty xuất khẩu là đơn vị quyết định giá bán gạo trên thị trường thế giới, từ đó truyền tín hiệu về cho toàn bộ chuỗi giá trị, thông qua các tác nhân khác bao gồm thương lái và nhà máy xay xát.

Các tác nhân chính trong chuỗi giá trị lúa gạo Việt Nam gồm: nông dân, thương lái, nhà chế biến (sấy, xay xát, đánh bóng), và doanh nghiệp kinh doanh lương thực – xuất khẩu. Đối với một số ít doanh nghiệp kinh doanh lương thực – xuất khẩu đã sở hữu hoặc đang đầu tư xây dựng hệ thống chế biến khép kín để đáp ứng điều kiện kinh doanh xuất khẩu gạo theo Nghị định 109/2010/NĐ-CP, các doanh nghiệp này đảm nhiệm vai trò nhà chế biến trong chuỗi giá trị.

Trong khuôn khổ phạm vi và mục đích nghiên cứu của dự án, dự án nghiên cứu lựa chọn ra một số tác nhân chính trong chuỗi giá trị chuỗi giá trị lúa gạo, bao gồm:

 

Các kênh phân phối chính trong chuỗi giá trị lúa gạo tại Đồng Tháp:

Kênh 1: Nông dân –> doanh nghiệp

Kênh này là kênh ngắn nhất trong chuỗi giá trị gạo xuất khẩu Đồng Tháp, với sự tham gia của 2 tác nhân là nông dân và doanh nghiệp lương thực, xuất khẩu. Đây là kênh thị trường ngắn và được cho là hiệu quả nhất trong số các kênh tiêu thụ. Trong kênh này, các doanh nghiệp lương thực/xuất khẩu lớn trực tiếp ký hợp đồng với nông dân thông qua hợp tác xã; do vậy, hạn chế được các khâu trung gian khác. Một số doanh nghiệp điển hình thực hiện mô hình liên kết với nông dân tại tỉnh Đồng Tháp bao gồm: Tập đoàn Lộc Trời, Công ty giống cây trồng miền Nam. Thông thường, các công ty mua gạo với yêu cầu cao hơn bao gồm: giống thuần chủng, lúa không bị lẫn với các loại khác, tỷ lệ lúa đổ. Các tiêu chuẩn này khác nhau đối với mỗi công ty. Trong trường hợp của Tập đoàn Lộc Trời, nông dân phải áp dụng đúng quy trình kỹ thuật, có cán bộ của công ty giám sát từ khi gieo đến khi thu hoạch. Tập đoàn chỉ mua lúa của các nông dân đạt tiêu chuẩn.

Trong tổng mẫu điều tra, có đến 37 trên tổng số 100 hộ được phỏng vấn có hợp đồng liên kết trực tiếp với các công ty. Tuy nhiên, tỷ lệ sản phẩm bán cho công ty theo hình thức liên kết trực tiếp với doanh nghiệp tại Đồng Tháp rất ít. Thông thường, mỗi hộ chỉ ký hợp đồng với công ty với diện tích khá nhỏ (từ 1-5ha) so với tổng diện tích đất canh tác Chủ yếu, nông dân ký kết với doanh nghiệp để sản xuất lúa giống, hoặc lúa thương phẩm theo yêu cầu của công ty. Tùy theo công ty, hợp đồng liên kết giữa doanh nghiệp với nông dân có nhiều nội dung khác nhau. Như trường hợp của Tập đoàn Lộc Trời, công ty cung cấp giống, vật tư và có cán bộ hướng dẫn quy trình kỹ thuật cho nông dân. Còn các trường hợp khác, các công ty lương thực thường chỉ ký hợp đồng bao tiêu sản phẩm. Về giá thu mua, các công ty cam kết sẽ mua lúa của nông dân với giá cao hơn mức giá thị trường từ 200-500 đồng/kg lúa tươi. Hợp đồng liên kết không những mang lại lợi ích cho nông dân mà cả doanh nghiệp. Theo kết quả nghiên cứu của IPSARD (2014), nếu không thông qua các tác nhân khác, chi phí chế biến lúa tươi thành gạo thành phẩm giảm đến 65% do khi doanh nghiệp mua lúa trực tiếp từ nông dân, đầu tư hệ thống sấy – xay xát – đánh bóng liên hoàn đã giảm được chi phí lao động và chi phí vận chuyển

Mặc dù tiêu thụ lúa gạo qua kênh 1 mang lại hiệu quả cao cho cả nông dân và doanh nghiệp, tuy nhiên, trên thực tế, việc triển khai hợp đồng giữa người nông dân trồng lúa và doanh nghiệp còn gặp rất nhiều khó khăn và vướng mắc, từ khâu ký kết hợp đồng đến khâu thu hoạch và vận chuyển do những bất đồng trong việc thực hiện hợp đồng giữa doanh nghiệp với nông dân. Đây cũng là rào cản cho việc tăng tốc độ phát triển liên kết trực tiếp giữa nông dân và doanh nghiệp. Những khó khăn của doanh nghiệp trong việc triển khai các hơp đồng nông sản với nông dân bao gồm: (i) thị trường đầu ra không chắc chắn; (ii) cần có nguồn vốn đầu tư lớn; (iii) rủi ro không lường trước khi có biến động của thị trường; (iv) quy mô của mỗi hộ nông dân nhỏ, do vậy việc đạt được sự đồng thuận của số lượng lớn hộ, hướng dẫn và giám sát chặt chẽ quy trình sản xuất gặp nhiều khó khăn nếu không tổ chức sản xuất theo chuỗi giá trị.

Kênh 2: Nông dân –> Xay sát, đánh bóng –> Doanh nghiệp

Trong kênh này, 3 tác nhân tham gia vào chuỗi giá trị gạo xuất khẩu bao gồm: người nông dân trồng lúa, cơ sở xay xát, đánh bóng và doanh nghiệp lương thực, xuất khẩu. Cơ sở xay xát, đánh bóng ngoài thu mua lúa từ tác nhân thương lái còn thu mua trực tiếp từ nông dân. Kênh này được thực hiện khi nhu cầu lúa của các cơ sở xay xát lớn trong khi lượng lúa do thương lái cung cấp chưa đủ so với yêu cầu. Hoặc trong trường hợp vào vụ thu hoạch rộ, lượng lúa trên thị trường lớn, cơ sở xay xát nếu có nguồn vốn, kho dự trữ và những mối hàng tiêu thụ thường xuyên sẽ mua trực tiếp từ nông dân để tích trữ.

Tại Đồng Tháp, số lượng cơ sở xay sát, đánh bóng nhỏ, tuyền thống giảm đáng kể, thay vào đó là các doanh nghiệp xay sát, đánh bóng nhỏ. Ngoài mua lúa của nông dân, họ mua lúa của các thương lái, sau đó xay sát, đánh bóng gạo và bán cho các công ty xuất khẩu hoặc các cơ sở bán buôn, bán lẻ trong địa phương.

Kênh 3: Nông dân – thương lái – Xay sát, đánh bóng – Doanh nghiệp

Trong kênh thị trường này, lúa gạo từ nông dân đi qua thương lái, xay xát và doanh nghiệp kinh doanh, xuất khẩu gạo. Kết quả khảo sát cho thấy, đây là kênh thị trường chiếm vị trí chủ đạo trong chuỗi giá trị lúa gạo tại ĐBSCL nói chung và Đồng Tháp nói riêng. Phạm vi hoạt động của thương lái rất rộng, có cả các thương lại chỉ mua trong tỉnh và liên tỉnh. Các thương lái trực tiếp mua lúa tươi của nông dân, không qua hợp đồng (chỉ có hợp đồng miệng), hoặc mua của cò lúa hoặc người thu gom lúa nhỏ. Trước khi thu hoạch, thương lái sẽ đến ruộng lúa của nông dân để xem chất lượng lúa và thỏa thuận giá. Các thương lái thường không quan tâm đến sản xuất lúa theo quy trình bền vững hay không bền vững, có tiết kiệm đầu vào không, mà chỉ quan tâm đến chất lượng lúa tại thời điểm thu hoạch. Giá lúa được thỏa thuận theo giá thị trường, nhưng các thương lái vẫn giữ quyền quyết định nhất là trong thời điểm giữa vụ thu hoạch, giá lúa trên thị trường chững lại. Thông thường, thương lái sẽ thực hiện trả tiền mặt ngay cho người nông dân khi thu mua lúa tại ruộng, cung cấp thanh khoản thanh toán các khoản nợ về phân bón, thuốc trừ sâu cho người nông dân. Trong khi đó, các thành phần khác trong thị trường như doanh nghiệp xuất khẩu hay nhà máy xay xát thường gặp khó khăn khi có sẵn nguồn tiền mặt đủ lớn trả trực tiếp cho nông dân, vốn của họ phải đầu tư thêm vào máy móc, thiết bị, quản lý doanh nghiêp. Sau khi thu mua lúa, các thương lái sẽ tiêu thụ dưới các hình thức sau: (1) bán cho các nhà máy xay xát; (2) Đem lúa đi xay xát rồi bán cho các nhà máy lau bóng/xuất khẩu; (3) bán gạo sau khi xay xát cho các nhà bán buôn/bán lẻ hoặc các doanh nghiệp cung ứng gạo.

Do mỗi thương lái đều thực hiện thu mua trên nhiều vùng khác nhau ở Đồng bằng sông Cửu Long nên hoạt động của thương lái rất khó để kiểm soát, số lượng thương lái cũng không được các cấp chính quyền thông kê một cách đầy đủ, chi tiết. Đây cũng là tác nhân khó tiếp cận nghiên cứu nhất, đặc biệt trong thời điểm mùa vụ thu hoạch do họ rất bận rộn.

Mặt hạn chế lớn nhất của thương lái thực chất là làm giảm chất lượng gạo Việt Nam do không có khả năng truy xuất nguồn gốc và làm giảm mức độ nguyên chất của gạo. Do một thương lái thu mua từ nhiều ruộng khác nhau, nên việc truy xuất nguồn gốc hầu như là không thể thực hiện. Việc thu mua cùng lúc các loại lúa có hình thức khá tương đồng nhau khiến gạo Việt Nam có tỷ lệ nguyên chất thấp, làm giảm chất lượng gạo xuất khẩu. Ngoài ra, chi phí trung gian giữa các tác nhân cũng là một vấn đề khiến chuỗi giá trị lúa gạo kém hiệu quả.

II. Hiệu quả kinh tế của các tác nhân chuỗi giá trị lúa gạo tại Đồng Tháp

  1. Phân bổ chi phí – lợi nhuận trong chuỗi giá trị lúa gạo tại Đồng Tháp

Từ tính toán, tổng hợp dữ liệu điều tra của các tác nhân trong chuỗi giá trị lúa gạo ở Đồng Tháp, chi phí, lợi nhuận của các tác nhân tại địa bàn khảo sát được thể hiện trong Bảng 4 dưới đây.

Bảng 1: Chi phí – lợi nhuận trên 01 kg lúa của các tác nhân trong chuỗi giá trị

Tác nhân Chi phí gộp (đồng/kg) Chi phí Giá bán (đồng/kg) Lợi nhuận
Giá trị (đồng/kg) Tỷ lệ (%) Giá trị (đồng/kg) Tỷ lệ (%)
Nông dân 2.864 2.864 83% 5.017 2.153 77%
Thương lái 5.102 85 2% 5.325 223 8%
Nhà máy xay xát/đánh bóng (*) 5.628 303 9% 5.813 185 7%
DN kinh doanh/XK 6.017 204 6% 6.250 233 8%
Tổng   3.456 100%   2.794 100%

Ghi chú (*): Chi phí đã được bù đắp bởi phụ phẩm sau xay xát.

Nguồn: Kết quả điều tra của IPSARD, 2017

Theo bảng trên, ban đầu người nông dân bán lúa tươi cho hệ thống thương lái tại địa phương. Khi lúa chuyển tới nhà máy xay xát sẽ trải qua công đoạn chuyển đổi: từ 01 kg lúa sẽ tạo ra 0,6 kg gạo nguyên liệu, 0,15 kg cám và 0,25 kg trấu. Do bảng trên chỉ đề cập đến sản phẩm chính từ lúa – gạo qua các tác nhân, nên giá trị thu được từ phụ phẩm sau xay xát (cám, trấu) sẽ được bù đắp vào chi phí của tác nhân nhà máy xay xát, doanh nghiệp. Và giá trị đầu ra của nhà máy xay xát được tính là 0,6 kg gạo được quy đổi từ 01 kg lúa ban đầu.

Trong các tác nhân tham gia chuỗi giá trị ngành gạo, nông dân là tác nhân có tỷ trọng chi phí rất lớn (83%) và cao hơn tỷ trọng lợi nhuận (77%), cho thấy tác nhân này chịu rủi ro nhiều nhất trước các sú shock thị trường. Trong khi đó, tác nhân thương lái tỷ trọng chi phí chỉ 2% trong khi tỷ trọng lợi nhuận tới 8% cho thấy sự an toàn và linh hoạt cao. Doanh nghiệp cũng có chênh lệch tỷ trọng lợi nhuận (8%) cao hơn tỷ trọng chi phí (6%). Nhà máy xay xát, đánh bóng có chênh lệch tỷ trọng lợi nhuận (7%) cao hơn tỷ trọng chi phí (9%) song phụ thu từ phụ phẩm có thể làm thay đổi tương quan này.

Mặc dù chiếm tỷ trọng lợi nhuận cao nhất trong chuỗi nhưng quy mô sản xuất nhỏ lẻ (bình quân 1 – 2 ha/hộ) nên tổng lợi nhuận của hộ trồng lúa thấp hơn nhiều so với các tác nhân khác trong chuỗi. Theo khảo sát, trong một năm trung bình mỗi hộ nông dân chỉ sản xuất dưới 10 tấn lúa trong khi với các tác nhân khác như thương lái, nhà máy xay xát lượng tiêu thụ lên tới hàng nghìn, chục nghìn tấn, thậm chí một số doanh nghiệp thương mại tiêu thụ lên tới cả trăm nghìn tấn. Bên cạnh đó, rủi ro mùa màng của người nông dân rất cao, khiến họ luôn phải đối mặt với thua lỗ, thậm chí mất trắng do mất mùa.

Trong khi đó, Quy mô của thương lái, cơ sở xay sát và đánh bóng, doanh nghiệp lương thực và xuất khẩu đều có quy mô lớn hơn rất nhiều so với nông dân. Vì vậy, tuy lợi nhuận tính trên 1kg lúa của các tác nhân thấp nhưng tổng lợi nhuận lại lớn hơn nhiều so với nông dân. Tóm lại, phân bổ lợi nhuận toàn chuỗi giá trị ngành gạo chịu sự chi phối của quy mô sản xuất, chu kỳ sản xuất kinh doanh, và quyền lực vận hành chuỗi của từng tác nhân.

  1. Nông dân

Theo tính toán từ số liệu khảo sát đối với nhóm giống lúa phổ biến, có điều kiện không quá khác biệt về năng suất, giá bán tại các địa bàn khảo sát, nhóm chi phí lớn nhất trong hoạt động trồng lúa vẫn là các loại vật tư đầu vào, bao gồm: giống, phân bón, thuốc BVTV, chiếm 56,3% tổng chi phí sản xuất. Tiếp đến là công lao động chiếm 23,1% (trong đó công lao động gia đình chiếm 12,7%) và chi phí thuê máy móc, dịch vụ trong toàn bộ quá trình canh tác, chiếm 19,9%. Các chi phí khác như khấu hao dụng cụ, nhiên liệu, vận chuyển… không đáng kể chỉ chiếm chưa đến 1%.

Hình 15: Cơ cấu chi phí sản xuất trung bình của nông dân tại Đồng Tháp

Nguồn: Điều tra của IPSARD tại Đồng Tháp, 2017

Chi tiết các khoản chi phí được trình bày cụ thể trong Bảng 2. Trong các loại vật tư đầu vào, chi phí cho thuốc BVTV trung bình chiếm khoảng 26,9% tổng chi phí, tiếp đến là phân bón (với 3 loại chính là đạm urê, kali và DAP) chiếm 20,6% và giống chiếm gần 8,8%. Tình hình cơ giới hóa tại các địa phương tỉnh Đồng Tháp rất tốt, đặc biệt là khâu làm đất, thu hoạch lúa, thủy lợi. Hầu như 100% hộ nông dân được phỏng vấn sử dụng máy trong làm đất và thu hoạch lúa. Có một số hộ tự mua máy làm đất, máy gặt lúa để kinh doanh và tự làm cho gia đình. Dịch vụ thủy lợi được quản lý và cung cấp thông qua các HTX.

Chi phí thuê máy móc cho các khâu này chỉ chiếm khoảng 20% tổng chi phí, trong đó thuê máy gặt đập chiếm 9%, máy làm đất 5,5% và dịch vụ bơm tưới tiêu (chủ yếu sử dụng dịch vụ của HTX) chiếm 5,2%. Chi phí lao động vẫn chiếm một tỷ lệ khá lớn trong tổng chi phí (23%). Trong đó công lao động gia đình chiếm 12,7% và thuê ngoài 10,5%. Tuy nhiên, thực tế như đã nêu ở phần đặc điểm nhân khẩu học, phần lớn các hộ trồng lúa tại Đồng Tháp hiện nay đều thuê máy móc và lao động ngoài vào việc canh tác trực tiếp. Phần việc của lao động gia đình chủ yếu là đi thăm đồng, chuẩn bị vật tư, quản lý lao động làm thuê hoặc thực hiện các công việc nhỏ khác. Do vậy việc ước tính chính xác công lao động gia đình khá khó khăn và chỉ mang tính tương đối.

Bảng 2: Chi phí sản xuất bình quân của người nông dân trồng lúa tỉnh Đồng Tháp

Chỉ tiêu Hạng mục Chi phí theo 1 ha (nghìn đồng/ha) Chi phí theo 1 kg lúa (đồng/kg) Tỷ trọng (%)
1. Đầu vào 1.1. Giống 1.592 253 8,8
1.2. Phân bón 3.715 590 20,6
1.3. Thuốc BVTV 4.846 769 26,9
2. Máy móc, dịch vụ 2.1. Bơm, tưới tiêu 946 150 5,2
2.2. Thuê máy làm đất 992 158 5,5
2.3. Thuê máy gặt đập 1.646 261 9,1
3. Thuê lao động 3.1. Gieo/cấy 385 61 2,1
3.2. Làm cỏ 445 71 2,5
3.3. Rải phân 392 62 2,2
3.4. Phun thuốc 669 106 3,7
4. Lao động gia đình 2.285 363 12,7
5. Chi phí khác 131 21 0,7
Tổng chi phí 18.045 2.864 100

Nguồn: Điều tra của IPSARD tại Đồng Tháp, 2017

Như vậy, chi phí trung bình tính trên 1ha lúa tại Đồng Tháp vào khoảng 18,05 triệu đồng/ha, và tính trên 1kg lúa tươi là 2,87 nghìn đồng/kg. Giá lúa trung bình tại thời điểm điều tra là 5.017 đồng/kg, nông dân thu được lợi nhuận là 2.153 đồng/kg. Với năng suất trung bình vào khoảng 6,3 tấn lúa/ha/vụ, doanh thu trồng lúa đạt khoảng 32 triệu đồng/ha, sau khi trừ chi phí cho lợi nhuận 11 triệu đồng/ha. Đối với các hộ nông dân trồng lúa với quy mô lớn trên 20 ha, lợi nhuận thu được mỗi năm trên cả 3 vụ lên tới hàng tỷ đồng. Tuy nhiên, tỷ lệ hộ có quy mô trên 20ha khá nhỏ (tỷ lệ hộ trồng lúa canh tác trên diện tích dưới 2 ha vẫn chiếm đến 86,6% tại vùng ĐBSCL), hơn nữa sản xuất lúa chịu nhiều rủi ro như dịch bệnh, thời tiết, biến động giá trên thị trường. Ngoài ra, các phụ phẩm từ trồng lúa vẫn chưa được nông dân tận dụng hiệu quả như rơm, rạ. Qua kết quả khảo sát, có rất ít hộ thu gom rơm để bán và thu tiền cho các hộ nuôi vịt chạy đồng sau khi thu hoạch. Tuy đây chỉ là các khoản thu nhỏ, nhưng nếu tính trên tổng diện tích cũng có thể tăng thêm thu nhập cho hộ.

Bảng 3: Hiệu quả kinh tế tính trên 1 kg lúa tại Đồng Tháp (đồng/kg)

Chỉ tiêu Số tiền Tỷ lệ trên doanh thu (%)
Giá bán lúa (đồng/kg) 5,017 100
Chi phí (đồng/kg) 2,864 57,1
Lợi nhuận (đồng/kg) 2,153 42,9

Nguồn: Điều tra của IPSARD tại Đồng Tháp, 2017

100% số hộ đều cho biết họ thấy được một số hiệu quả từ canh tác theo phương pháp an toàn bền vững mang lại. Trong đó, tỷ lệ cho biết biết áp dụng tiêu chuẩn canh tác an toàn bền vững giúp: giảm lượng giống gieo (83%); giảm lượng phân bón (81%); giảm lượng thuốc BVTV (74%); giảm nước tưới (68%); Tăng năng suất lúa (61%); tăng chất lượng lúa (47%); tiêu thụ lúa gạo dễ dàng hơn (33%); bán giá cao hơn gạo thường (19%)…

Hình 16: Lợi ích các tiêu chuẩn sản xuất an toàn bền vững đối với người dân (%)

Nguồn: Điều tra của IPSARD tại Đồng Tháp, 2017

Rất khó để xác định hiệu quả kinh tế của việc sản xuất lúa áp dụng theo các quy trình như 1 phải 5 giảm, 3 giảm 3 tăng do các nguyên nhân sau. Thứ nhất, các hộ nông dân không tuân theo toàn bộ quy trình mà chỉ áp dụng một vài nội dung trong quy trình. Nông dân có thể nhận thức được lợi ích của việc áp dụng quy trình sản xuất mới thông qua các cuộc tập huấn nhưng do không có thói quen ghi chép lại chi phí nên rất khó để so sánh. Một nguyên nhân nữa là do chưa có chứng nhận về sản phẩm nên không có sự phân biệt giá lúa trên thị trường. Chỉ có một số ít hộ bán lúa cho các công ty mới thấy được chênh lệch giá, còn lại đại đa số nông dân vẫn bán lúa cho thương lái.

Về áp dụng các tiêu chuẩn, phần lớn các hộ dân cho biết việc thực hiện theo tiêu chuẩn tương đối dễ dàng không gặp khó khăn trở ngại nào (76%). Thậm chí, một số hộ cho biết tiêu chuẩn họ đang áp dụng còn dễ dàng hơn phương pháp canh tác thông thường truyền thống (21%). Cụ thể, tỷ lệ người dân đồng ý rằng việc áp dụng quy trình quá phức tạp chỉ chiếm 22%; không quá khó với trình độ người dân (26%); lợi nhuận thấp so với cách thức truyền thống (24%), điều kiện tự nhiên không phù hợp (31%), thiếu chính sách hỗ trợ của nhà nước (43%).

  1. Thương lái

Hầu hết thương lái dùng ghe lớn với công suất khác nhau để thu mua lúa của nông dân. Theo khảo sát, công suất ghe tàu của họ rất đa dạng, từ 10 tấn, 20 tấn, 30 tấn…, thậm chí cả trăm tấn, được sử dụng tùy theo chuyến hàng, điều kiện cho phép của hệ thống kênh rạch.

Các khoản chi phí của thương lái bao gồm: chi phí mua lúa tươi, tiền chênh lệch trả cho cò lúa (nếu có) chi phí vận chuyển. Theo kết quả điều tra, chi phí tăng thêm mà thương lái chi (trừ tiền mua lúa) khoảng 85 đồng/kg. Với giá lúa chênh lệch khoảng 300-350 đồng/kg, thương lái thu được lợi nhuận khoảng 223 đồng/kg. Tính trên 1kg lúa, lợi nhuận của thương lái thu được rất nhỏ nhưng trên thực tế, lượng thu mua lúa của thương lái rất lớn nên lợi nhuận thương lái thu được là rất lớn. Trung bình thu gom 1 tấn lúa, thương lái thu được lợi nhuận là 223 nghìn đồng. Trong khi đó, chỉ tính trong 1 vụ, một thương lái chỉ cần sở hữu 1 ghe trọng tải 40 tấn (mức trọng tải trung bình) có thể thu mua trên 100 tấn lúa, lợi nhuận thu được khoảng 25-30 triệu đồng/vụ, tổng lợi nhuận hàng năm của một thương lái nhỏ từ 1 ghe có thể đạt 65-75 triệu đồng.

Trong toàn chuỗi giá trị, thương lái là nhà trung gian chịu rủi ro trong kinh doanh thấp nhất bởi vì chu kỳ kinh doanh ngắn nên ít bị ảnh hưởng của biến động giá cả lên xuống nên họ thu được mức lợi nhuận biên cao. Trong trường hợp rủi ro, chẳng hạn giá biến động giảm, họ có thể “hủy kèo” với nông dân và chịu mất tiền cọc ứng trước. Mức tiền cọc mất đi thấp hơn đáng kể so với việc họ phải bỏ tiền ra mua lúa trong bối cảnh giá có xu hướng đi xuống.

  1. Nhà máy xay xát và doanh nghiệp kinh doanh lúa gạo:

Theo kết quả tính toán trên, lợi nhuận của nhà máy xay xát, đánh bóng đạt 185 đồng/kg. Đối với cơ sở sấy lúa trung bình, cơ sở chỉ cần hoạt động với công suất tối đa 500 tấn lúa tươi/ngày trong vòng 3 tháng cao điểm mỗi năm, sử dụng lò sấy vỉ ngang bán công nghiệp, thì có thể thu tổng lợi nhuận hàng năm khoảng 3,6 tỷ đồng. Trong khi đó, doanh nghiệp lương thực-xuất khẩu có bỏ ra chi phí 204 đồng/kg và thu được lợi nhuận 233 đồng/kg. Như vậy, cứ một tấn lúa doanh nghiệp thu được lợi nhuận 233 nghìn đồng. Tuy nhiên, các doanh nghiệp phải đầu tư vốn lớn (mua máy móc, thiết bị, đầu tư nhà xưởng, văn phòng, vốn lưu động), cũng là đối tượng chịu rủi ro nếu có biến động lớn trên thị trường. Quy mô sản xuất của nhà máy xay sát và doanh nghiệp lớn, duy trì trong cả năm nên tổng lợi nhuận thu được là rất lớn. Đây cũng là khâu mang lại giá trị gia tăng cho sản phẩm lúa gạo.

III. Những khó khăn đối với sản xuất kinh doanh lúa gạo

  1. Các yếu tố khách quan

Trong nông nghiệp nói chung và sản xuất lúa gạo nói riêng, các loại rủi ro thường gặp đó là: Rủi ro do thời tiết; do dịch bệnh; do ô nhiễm; do thị trường; do thể chế chính sách; do khâu hậu cần và do quản lý của các tác nhân tham gia. Những rủi ro này có thể ảnh hưởng đến toàn bộ các tác nhân tham gia chuỗi với các mức độ khác nhau.

Hình 17: Khó khăn của người nông dân trồng lúa (% lựa chọn trên tổng mẫu)

Nguồn: Điều tra của IPSARD tại Đồng Tháp, 2017

Theo khảo sát, các yếu tố khó khăn phổ biến nhất đối với người nông dân sản xuất lúa gạo đó là tác động của thời tiết (84% số người lựa chọn). Biến động của thời tiết là những thứ rất khó dự báo. Tại xã An Phong huyện Thanh Bình, vụ mùa năm 2016 tại địa phương đã xảy ra lũ lụt khiến cho mùa màng của đa số người dân bị mất trắng, thiệt hại lên tới hàng trăm triệu đồng. Đối với các tác nhân khác, mức độ thiệt hại do thời tiết xấu gây ra thấp hơn người nông dân rất nhiều (chỉ 34%) do họ hoặc thời gian lưu chuyển lúa ngắn (thương lái), hoặc có phương tiện lưu trữ (nhà máy xay xát, doanh nghiệp).

Khó khăn lớn tiếp theo đó là diễn biến dịch bệnh làm giảm năng suất/ sản lượng lúa (71%). Mặc dù công tác tuyên truyền, cảnh báo, khuyến cáo tại địa phương hiện nay tương đối tốt, giúp bà con chủ động phòng tránh được thiệt hại từ các loại dịch bệnh như đạo ôn, rầy, lùn xoắn lá… song thiệt hại vẫn xảy ra ở mức độ nào đó và người dân vẫn phải tốn chi phí cho việc phòng chống dịch, chi phí thuốc BVTV… Tuy nhiên, các tác nhân khác hầu như không bị tác động trực tiếp bởi yếu tố dịch bệnh này.

Một khó khăn lớn khác đó chính là sự biến động thất thường của giá lúa (68% lựa chọn). Có những thời điểm trong vụ thu hoạch, giá lúa đã giảm xuống rất thấp khiến nhiều hộ dân đối mặt với thua lỗ. Người nông dân vẫn là chủ thể dễ tổn thương nhất khi giá lúa biến động. Bên cạnh đó, họ còn thường xuyên đối mặt với tình trạng thương lái ép giá. Trước sức ép trả nợ vay vật tư đầu vào hoặc đầu tư từ đầu vụ, nhiều trường hợp phải bán lúa cho thương lái với giá thấp để có tiền trang trải chi phí. Không chỉ người nông dân, doanh nghiệp cũng chịu những rủi ro và sức ép lớn khi giá cả biến động. Trong khi đó, thương lái ít chịu rủi ro hơn cả do họ luôn nhanh chóng quay vòng vốn của mình.

Cũng theo khảo sát, các yếu tố như hệ thống thủy lợi, cơ sở hạ tầng ít gây ra khó khăn cho người dân trồng lúa vì họ cho biết hệ thống thủy lợi tại địa phương tốt, đáp ứng được nhu cầu mùa vụ (91%), đường xá tốt (78%), điện lưới tốt (86%). Họ cũng không gặp khó khăn đối với vấn đề vật tư đầu vào do dịch vụ nhà cung ứng tốt (85%), không hoặc rất ít khi gặp phải tình trạng phân bón giả, kém chất lượng, hoặc giống không tốt.

  1. Liên kết giữa các tác nhân trong chuỗi giá trị lỏng lẻo

Theo kết quả điều tra, nông dân bán lúa thường qua hai kênh chính là thương lái và cơ sở xay xát theo nguyên tắc thuận mua vừa bán và theo giá cả thị trường. Những giao dịch này được thực hiện chủ yếu bằng miệng mà không có hợp đồng hay bất cứ cam kết nào. Tương tự như nông dân bán lúa, các giao dịch khác như thương lái – cơ sở xay xát, cơ sở xay xát – bán buôn/ bán lẻ hầu như cũng không có cam kết. Sự lỏng lẻo và yếu kém của mối liên kết trong sản xuất và tiêu thụ lúa gạo không chỉ gây ra những khó khăn, bất lợi cho nông dân khi bị thương lái, doanh nghiệp ép giá mà nông dân còn gặp rất nhiều khó khăn trong tiếp cận, tiếp nhận vốn tín dụng, chuyển giao, ứng dụng khoa học – kỹ thuật. Nông dân phải mua vật tư nông nghiệp với giá cao, chi phí sản xuất cao do sử dụng lãng phí vật tư và tiêu thụ lúa gạo với giá bất lợi, lợi nhuận bị giảm thấp. Ngay cả khi giá lúa trên thị trường nội địa và giá xuất khẩu gạo cao lợi nhuận này cũng phải chia cho nhiều tầng nấc trung gian. Hệ quả tất yếu là đã gây bất ổn cho sản xuất nông nghiệp, gây trở ngại cho phát triển và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn.

  1. Động lực và năng lực liên kết trực tiếp nông dân – doanh nghiệp còn thấp

Trong các kênh sản xuất – tiêu thụ lúa gạo, liên kết trực tiếp nông dân – doanh nghiệp có hiệu quả kinh tế cao nhất, khả năng truy xuất nguồn gốc, kiểm soát chất lượng và độ nguyên chất của sản phẩm tốt nhất. Tuy nhiên, liên kết trực tiếp nông dân – doanh nghiệp chiếm tỷ trọng thấp nhất trong các kênh tiêu thụ lúa từ đồng ruộng của nông dân, do động lực và năng lực liên kết giữa cả hai bên còn thấp. Mặc dù các chính sách hiện hành đã có (như: Nghị định 109/2010/NĐ-CP về kinh doanh xuất khẩu gạo, Quyết định số 62/2013/QĐ-TTg về chính sách phát triển hợp tác, liên kết sản xuất gắn với tiêu thụ nông sản, xây dựng cánh đồng lớn) tác động trong việc kiến tạo động lực, nhưng động lực này chưa được thúc đẩy bằng những ưu đãi, hỗ trợ cụ thể và những chế tài quản lý chặt chẽ.

Theo phản hồi của các doanh nghiệp, các điều kiện ưu đãi trong Quyết định 62 chưa cụ thể và hấp dẫn, trong khi các điều kiện hưởng ưu đãi lại đang vượt quá năng lực của doanh nghiệp, khiến động lực liên kết trực tiếp với nông dân của họ bị giảm sút. Hai thách thức lớn nhất đối với doanh nghiệp trong liên kết trực tiếp với nông dân này là: vốn và nhân lực để phát triển liên kết, vùng nguyên liệu thì không được đề cập trong nội dung ưu đãi. Hiện tại, đội ngũ thương lái đang có hệ thống phương tiện nhỏ và cò lúa để thu mua tới tận ruộng của từng hộ nông dân trồng lúa. Trong ngắn và trung hạn, doanh nghiệp không có đủ tiềm lực vốn để xây dựng một đội ngũ hoạt động hiệu quả và có kinh nghiệm để thay thế hoàn toàn đội ngũ thương lái hiện tại.

Hơn nữa, Quyết định 62 quy định doanh nghiệp phải có hợp đồng trực tiếp hoặc liên kết với các doanh nghiệp khác để cung ứng vật tư, dịch vụ đầu vào cho nông dân; đây là quy định còn khá cứng nhắc và sẽ khiến tốc độ liên kết, vốn đã chậm, càng chậm hơn, đặc biệt là đối với các doanh nghiệp chỉ có kinh nghiệm trong lĩnh vực kinh doanh – xuất khẩu lương thực. Nông dân ưa thích sự tùy chọn vật tư sản xuất và hiện các doanh nghiệp vật tư nông nghiệp đều dựa vào hệ thống đại lý nhiều cấp để phân phối sản phẩm, nên quy định buộc doanh nghiệp vật tư đầu vào – doanh nghiệp thu mua lúa liên kết với nhau rất khó thực hiện và đạt đồng thuận giữa các tác nhân. Hiện nay, các địa phương đang kỳ vọng có thể nhân rộng mô hình liên kết doanh nghiệp – nông dân có sự tham gia của HTX; trong đó, HTX đóng vai trò pháp nhân liên kết giữa doanh nghiệp – nông dân (gồm cả doanh nghiệp cung ứng vật tư đầu vào và doanh nghiệp thu mua) dựa trên sự đồng thuận và tự nguyện tham gia của nông dân. Ngoài ra, các doanh nghiệp cũng kỳ vọng HTX có thể sấy và lưu kho một phần lúa vào vụ thu hoạch rộ để giảm áp lực tại cơ sở chế biến của doanh nghiệp. Tuy được kỳ vọng nhiều, nhưng hầu hết các HTX hiện nay chỉ cung cấp dịch vụ tưới tiêu, năng lực quản lý hạn chế và thiếu khả năng liên kết với các tác nhân trong chuỗi ngành hàng.

Trong khi đó, về phía nông dân, giá cả là vấn đề được quan tâm hàng đầu và cũng là nguyên nhân chủ yếu khiến nông dân – doanh nghiệp phá vỡ hợp đồng. Mặc dù nhiều doanh nghiệp đang thực hiện chính sách thu mua cao hơn giá thị trường từ 100-200đ/kg nhưng nông dân cho rằng, với những yêu cầu cụ thể về chất lượng, quy trình sản xuất, giá thu mua này không mang lại cho họ lợi nhuận cao hơn, trong khi nông dân phải bỏ nhiều công hơn, đặc biệt trong các giai đoạn mùa vụ cao điểm (cấy, gặt) để đáp ứng các yêu cầu này. Mặt khác, những rủi ro khiến nông dân mất khả năng thanh toán, hoặc làm giảm năng suất, chất lượng lúa (như mưa gió làm đổ ngã lúa, lũ lụt), chưa được bảo hiểm và doanh nghiệp cũng không sẵn sàng chia sẻ các rủi ro này, nên nông dân không nhận thấy rõ lợi ích khi liên kết với doanh nghiệp. Ngoài ra, nhiều nông dân chưa quen với cách tính giá lúa khô dựa trên ẩm độ lúa tươi tại ruộng nên không đồng thuận về giá giao dịch với doanh nghiệp. Như trong mô hình liên kết với Tập đoàn Lộc Trời, nông dân được cung cấp đầu vào, hướng dẫn kỹ thuật và thu mua sản phẩm với giá cao hơn. Tuy nhiên, không phải nông dân nào cũng sẵn lòng tham gia liên kết vì: (i) yêu cầu của công ty khá cao về chọn vị trí ruộng, chọn giống, sử dụng vật tư và quy trình canh tác, (ii) nông dân quen sản xuất theo kinh nghiệm của bản thân nên gặp khó khăn khi thực hành theo quy trình có sự giám sát của công ty.

Những thực tế trên cho thấy động lực và năng lực liên kết trực tiếp giữa nông dân – doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, mặc dù đây là kênh sản xuất – kinh doanh lúa gạo có tiềm năng tốt trong nâng cao giá trị, tạo lập thương hiệu, kiểm soát chất lượng và truy xuất nguồn gốc, cũng như mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn về dài hạn cho cả nông dân và doanh nghiệp.

Tham khảo báo cáo full tại đây

Bao cao dieu tra rice value chain – Dong Thap

Nguồn: IPSARD

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *