Điều tra tác động của Covid-19 tới doanh nghiệp

  1. THÔNG TIN CHUNG VỀ CUỘC KHẢO SÁT

Thực hiện Chỉ thị số 11/CT-TTg ngày 04 tháng 3 năm 2020 của Thủ tướng Chính phủ về các nhiệm vụ, giải pháp cấp bách tháo gỡ khó khăn cho sản xuất, kinh doanh (SXKD), bảo đảm an sinh xã hội ứng phó với dịch Covid-19, Tổng cục Thống kê tổ chức cuộc khảo sát nhanh nhằm thu thập thông tin về tình hình tác động của dịch Covid-19 đến hoạt động SXKD cũng như đánh giá mức độ phù hợp của các giải pháp được đưa ra trong Chỉ thị số 11/CT-TTg tới doanh nghiệp.

Thông tin do doanh nghiệp cung cấp từ cuộc khảo sát sẽ giúp Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các Bộ, ngành và địa phương đánh giá đầy đủ về tác động của dịch Covid-19 đến hoạt động SXKD của doanh nghiệp cũng như dự báo những khó khăn doanh nghiệp tiếp tục phải đối mặt nếu dịch Covid-19 tiếp tục kéo dài. Từ đó, Chính phủ, các Bộ, ngành và địa phương có thêm căn cứ để tiếp tục đưa ra các chính sách, giải pháp phù hợp, kịp thời hỗ trợ doanh nghiệp tháo gỡ khó khăn, ổn định và tiếp tục phát triển SXKD.

Cuộc khảo sát áp dụng cho các doanh nghiệp trên phạm vi cả nước, hoạt động trong tất cả các ngành kinh tế. Cuộc khảo sát được thực hiện từ ngày 10/4/2020 đến ngày 20/4/2020 bằng hình thức khảo sát trực tuyến, sử dụng bảng hỏi điện tử trên hệ thống Điều tra doanh nghiệp năm 2020 của Tổng cục Thống kê.

Tính đến thời điểm kết thúc điều tra 20/4/2020, tổng số doanh nghiệp tham gia trả lời cuộc khảo sát là 126.551 doanh nghiệp chiếm gần 20,0% tổng số doanh nghiệp đang hoạt động có kết quả SXKD tại thời điểm hiện nay (trong đó có 51/66 tập đoàn, tổng công ty kinh tế có quy mô lớn, hạch toán toàn ngành). Chỉ trong thời gian ngắn triển khai khảo sát trực tuyến, số lượng doanh nghiệp tham gia trả lời đạt con số ấn tượng như vậy là do cuộc khảo sát thực sự mang tính cấp thiết và doanh nghiệp nhận thức được ý nghĩa, tầm quan trọng của cuộc khảo sát nên đã tích cực phối hợp với Tổng cục Thống kê thực hiện thành công cuộc khảo sát.

Biểu 1.1:  Số doanh nghiệp tham gia trả lời cuộc khảo sát

đánh giá tác động của dịch Covid-19 đến SXKD của doanh nghiệp

Doanh nghiệp
Số doanh nghiệp trả lời
               CẢ NƯỚC                                  126,565
     Phân theo quy mô doanh nghiệp
        + Doanh nghiệp siêu nhỏ                                    69,760
        + Doanh nghiệp nhỏ                                    43,758
        + Doanh nghiệp vừa                                      6,714
        + Doanh nghiệp lớn                                      6,333
     Phân theo loại hình doanh nghiệp
        + Doanh nghiệp nhà nước                                      3,081
        + Doanh nghiệp ngoài nhà nước                                  117,838
        + Doanh nghiệp FDI                                      5,646
    Phân theo ngành kinh tế
     1. Nông, lâm nghiệp và thủy sản 4559
     2. Công nghiệp và xây dựng 48849
     3. Dịch vụ 73157
 
  1. KẾT QUẢ KHẢO SÁT
  2. Tình hình doanh nghiệp chịu tác động của dịch Covid-19 đến hoạt động sản xuất kinh doanh

Dịch Covid-19 đã và đang tác động tiêu cực đến hoạt động SXKD của hầu hết các doanh nghiệp. Kết quả khảo sát cho thấy, có tới 85,7% doanh nghiệp được hỏi cho rằng đang phải chịu tác động tiêu cực của dịch Covid-19. Theo quy mô, các doanh nghiệp có quy mô càng lớn, tỷ lệ doanh nghiệp chịu nhiều tác động từ dịch Covid-19 càng cao. Nhóm doanh nghiệp lớn (hiện chiếm 2,8% tổng số doanh nghiệp) là nhóm có tỷ lệ doanh nghiệp chịu tác động nhiều nhất với tỷ lệ 92,8%; tiếp đến là nhóm doanh nghiệp vừa và nhỏ, với tỷ lệ chịu tác động lần lượt là 91,1% và 89,7%; tỷ lệ này ở nhóm doanh nghiệp siêu nhỏ (hiện chiếm 62,6% toàn bộ doanh nghiệp) là thấp nhất với 82,1%.

Theo loại hình doanh nghiệp, doanh nghiệp FDI là đối tượng đang chịu nhiều tác động của dịch Covid-19 nhất, với 88,7%; tỷ lệ này đối với nhóm doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp ngoài nhà nước lần lượt là 87,3% và 85,5%.

Theo ngành kinh tế, doanh nghiệp thuộc khu vực công nghiệp và xây dựng và khu vực dịch vụ đang chịu nhiều tác động nhất từ dịch Covid-19 thời điểm hiện nay với tỷ lệ doanh nghiệp bị tác động lần lượt là 86,1% và 85,9%; trong khi doanh nghiệp khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chịu ảnh hưởng ít hơn với 78,7% (tuy nhiên quy mô của các doanh nghiệp khu vực này chỉ chiếm tỷ lệ rất thấp trong toàn bộ doanh nghiệp).

Đáng chú ý, một số ngành kinh tế có tỷ lệ doanh nghiệp chịu tác động tiêu cực của dịch Covid-19 cao, điển hình như ngành hàng không 100,0%; ngành dịch vụ lưu trú 97,1%; dịch vụ ăn uống 95,5%; hoạt động của các đại lý du lịch 95,7%; giáo dục và đào tạo 93,9%; tiếp đến là các ngành dệt, may, sản xuất da, các sản phẩm từ da, sản xuất các sản phẩm điện tử, sản xuất ô tô đều có tỷ lệ trên 90,0%.

Theo vùng kinh tế, Đồng bằng sông Hồng và khu vực Bắc trung bộ và Duyên hải miền Trung (vùng có nhiều doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực du lịch, khách sạn, nhà hàng) là hai vùng có tỷ lệ doanh nghiệp chịu tác động nhiều nhất từ dịch Covid-19, chiếm trên 88,5%; trong đó, một số địa phương có quy mô lớn về số lượng doanh nghiệp như Hà Nội, Hải Phòng, Khánh Hòa… có tỷ lệ doanh nghiệp chịu tác động của dịch Covid-19 cao nhất, trên 92,0%. Các tập đoàn, tổng công ty có quy mô kinh tế lớn có tỷ lệ doanh nghiệp chịu tác động lên tới 94,6%.

 

Doanh nghiệp đang phải đối mặt với hàng loạt những khó khăn do dịch Covid-19 gây ra như: thiếu hụt nguồn vốn cho SXKD, thị trường cung – cầu trong nước bị bị thu hẹp, hoạt động xuất, nhập khẩu bị đình trệ…Trong đó, thị trường tiêu thụ gặp khó khăn (bao gồm cả thị trường tiêu thụ trong nước và thị trường xuất khẩu) đang là khó khăn hàng đầu của đại bộ phận doanh nghiệp, chiếm tới 57,7% số doanh nghiệp. Đáng chú ý, trong các doanh nghiệp có hoạt động xuất khẩu, có tới 47,2% doanh nghiệp hàng hóa sản xuất ra không xuất khẩu được thời gian qua. Bên cạnh đó, thiếu hụt nguồn vốn cho SXKD và không thực hiện được hoạt động SXKD cũng là những khó khăn chủ yếu hiện nay của doanh nghiệp, với tỷ lệ được lựa chọn lần lượt đạt 45,4% và 45,5%. Ngoài ra, thiếu hụt nguyên liệu đầu vào cũng là vấn đề đáng quan tâm hiện nay khi có tới 22,1% doanh nghiệp bị ảnh hưởng; trong đó, có tới 39,9% doanh nghiệp cho biết đang bị thiếu hụt nguồn nguyên liệu nhập khẩu.

Biểu 2.1: Những khó khăn chính doanh nghiệp đang phải đối mặt

do tác động của dịch Covid-19

%

  Thiếu hụt nguồn vốn cho SXKD Thiếu hụt nguồn nguyên liệu đầu vào Thị trường tiêu thụ gặp khó khăn Không thực hiện được hoạt động SXKD
         CẢ NƯỚC 45.4 22.1 57.7 45.5
     Phân theo quy mô doanh nghiệp
        + Doanh nghiệp siêu nhỏ 41.7 16.8 54.8 49.7
        + Doanh nghiệp nhỏ 49.9 25.3 59.4 43.7
        + Doanh nghiệp vừa 50.6 32.3 64.7 34.4
        + Doanh nghiệp lớn 46.4 42.8 68.1 28.2
     Phân theo loại hình doanh nghiệp
        + Doanh nghiệp nhà nước 49.7 24.4 58.7 40.3
        + Doanh nghiệp ngoài nhà nước 45.9 21.2 57.5 46.5
        + Doanh nghiệp FDI 32.9 39.6 61.2 27.8
     Phân theo ngành kinh tế
        + Nông, lâm nghiệp và thủy sản 54.1 26.1 72.5 34.1
        + Công nghiệp và xây dựng 52.1 25.3 59.4 42.9
        + Dịch vụ 40.5 32.3 64.7 47.9

 

Theo quy mô, nhóm doanh nghiệp có quy mô siêu nhỏ là nhóm gặp nhiều khó khăn nhất hiện nay khi có tới 49,7% doanh nghiệp không thể tiến hành được hoạt động SXKD. Tỷ lệ này giảm dần khi quy mô của doanh nghiệp tăng lên, cụ thể: nhóm doanh nghiệp có quy mô nhỏ, vừa và lớn có tỷ lệ doanh nghiệp không thể tiến hành được hoạt động SXKD lần lượt là 43,7%; 34,4% và 28,2%. Trong khi đó, những doanh nghiệp đang tiếp tục hoạt động lại gặp phải nhiều rào cản về thị trường cung-cầu; trong đó, doanh nghiệp có quy mô lớn và vừa là nhóm chịu nhiều ảnh hưởng nhất do thị trường tiêu thụ bị thu hẹp, lên tới 68,1% và 64,7%. Cũng dễ hiểu khi đây là khu vực doanh nghiệp chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu xuất khẩu của toàn bộ nền kinh tế. Doanh nghiệp không chỉ bị ảnh hưởng nhiều bởi thị trường tiêu thụ trong nước bị thu hẹp mà còn do hàng hóa sản xuất ra không xuất khẩu được do hầu hết các thị trường xuất khẩu truyền thống của các doanh nghiệp Việt hiện nay đều bị thu hẹp do người dân các nước hạn chế giao tiếp do phải giãn cách xã hội, mất việc làm, thu nhập thấp nên nhu cầu tiêu thụ giảm mạnh. Trong số các doanh nghiệp có hoạt động xuất khẩu, tỷ lệ doanh nghiệp không xuất khẩu được hàng hóa lên tới 56,9% và 46,2% cho nhóm doanh nghiệp có quy mô lớn và quy mô vừa; tỷ lệ này ở nhóm doanh nghiệp quy mô nhỏ và siêu nhỏ là 40,7% và 28,0%. Không chỉ vậy, doanh nghiệp quy mô lớn còn là đối tượng gặp nhiều khó khăn nhất trong tiếp cận nguồn nguyên liệu đầu vào, với 42,8% số doanh nghiệp. Nguồn nguyên liệu bị thiếu hụt của doanh nghiệp quy mô lớn chủ yếu đến từ nguồn nguyên liệu nhập khẩu, với tỷ lệ 32,6%. Nếu xét trên bộ phận doanh nghiệp lớn có hoạt động nhập khẩu nguyên liệu đầu vào, thì tỷ lệ này lên tới 53,8%. Trong khi đó, tỷ lệ DN lớn thiếu hụt nguồn nguyên liệu trong nước là 22,1%. Ngoài những khó khăn trên, tình trạng thiếu hụt nguồn vốn SXKD là tình trạng chung của toàn bộ doanh nghiệp từ quy mô nhỏ, siêu nhỏ đến doanh nghiệp quy mô vừa và lớn.

Theo loại hình doanh nghiệp, doanh  nghiệp ngoài nhà nước là đối tượng có tỷ lệ doanh nghiệp không thực hiện được hoạt động SXKD cao nhất với 46,5%; tiếp theo là nhóm doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp FDI với 40,3% và 27,8%. Tuy nhiên, doanh nghiệp FDI lại là đối tượng chịu nhiều tác động nhất từ thị trường tiêu thụ đầu ra và thị trường nguyên liệu đầu vào, chiếm tỷ lệ lần lượt là 61,2% và 39,6%; trong đó: doanh nghiệp có hàng hóa sản xuất ra không xuất khẩu được và doanh nghiệp thiếu hụt nguyên liệu từ nhập khẩu chiếm tỷ lệ lần lượt là 24,8% và 32,4%. Nếu chỉ tính trên phạm vi doanh nghiệp xuất, nhập khẩu thì tỷ lệ trên tăng lên là 53,8% và 56,9%. Trong khi doanh nghiệp nhà nước là nhóm có tỷ lệ thiếu hụt nguồn vốn cho SXKD cao nhất với 49,8%.

Theo ngành kinh tế, khu vực dịch vụ có tỷ lệ doanh nghiệp không tiến hành được hoạt động SXKD cao nhất do tác động của dịch Covid-19 với  47,9%; tỷ lệ này thấp hơn đối với khu vực công nghiệp và xây dựng và khu vực dịch vụ, lần lượt là 42,9% và 34,1%.

Do tác động của dịch Covid-19, những ngành không thực hiện được hoạt động SXKD với tỷ lệ rất cao như: hàng không 100%; các ngành dịch vụ như: lưu trú và ăn uống, đại lý du lịch có tỷ lệ trên 73,0%; giáo dục và đào tạo 70,9%; hoạt động xổ số 84,5%… Đây cũng là thực tế khi các doanh nghiệp hoạt động trong các ngành này phải tạm dừng hoặc hạn chế hoạt động kinh doanh do yêu cầu giãn cách xã hội để phòng, chống dịch Covid-19 theo Chỉ thị của Thủ tướng chính phủ.

Bên cạnh đó, một số ngành công nghiệp trọng điểm của nước ta cũng đang phải đối mặt với những khó khăn khi hầu hết các doanh nghiệp quy mô lớn phụ thuộc nhiều vào thị trường xuất, nhập khẩu; cụ thể: đối với doanh  nghiệp sử dụng nguồn nguyên liệu nhập khẩu, tỷ lệ doanh nghiệp thiếu hụt nguồn nguyên liệu này của ngành may mặc lên tới 70,3%, tỷ lệ tương ứng của ngành da giày là 71,0%. Đối với doanh nghiệp xuất khẩu sản phẩm thuộc hai nhóm ngành này, tỷ lệ doanh nghiệp không xuất khẩu được hàng hóa lần lượt là 64,5% và 65,0%. Tương tự, ngành sản xuất các sản phẩm điện tử và sản xuất ô tô cũng có tỷ lệ lớn doanh nghiệp gặp khó khăn trong tiếp cận nguồn cung đầu vào từ nhập khẩu với tỷ lệ lần lượt là 62,1% và 58,1%. Trong khi đó hoạt động xuất khẩu của hai nhóm ngành này cũng gặp khó khăn khi số doanh nghiệp có hàng hóa sản xuất ra nhưng không xuất khẩu được cũng chiếm tỷ lệ khá cao, trêm 45,0 %.

Tình hình kinh tế cả nước gặp khó khăn do tác động của dịch Covid-19, hoạt động SXKD của doanh nghiệp bị đình trệ, bên cạnh đó doanh nghiệp còn phải chịu áp lực từ các khoản chi phí lớn như: chi phí thuê mặt bằng, chi trả lãi vay ngân hàng, trả công cho lao động, chi phí thường xuyên khác,…

Biểu 2.2: Xếp hạng các khoản chi phí là gánh nặng cho doanh nghiệp

Điểm
        (Điểm đánh giá từ 1-5, trong đó, 1 là khoản chi lớn nhất – gánh nặng nhất…5 là khoản chi thấp nhất)
  Chi thuê mặt bằng Trả công lao động Trả lãi vay ngân hàng Chi cho hoạt động thường xuyên Chi khác
A 1 2 3 4 5
              CẢ NƯỚC 2.68 1.89 2.41 2.67 4.02
 Phân theo quy mô doanh nghiệp
        + Doanh nghiệp siêu nhỏ 2.47 1.99 2.46 2.60 4.04
        + Doanh nghiệp nhỏ 2.85 1.80 2.34 2.76 4.03
        + Doanh nghiệp vừa 3.04 1.77 2.33 2.76 3.98
        + Doanh nghiệp lớn 3.17 1.69 2.50 2.64 3.78
 Phân theo loại hình doanh nghiệp
        + Doanh nghiệp nhà nước 2.79 1.86 2.49 2.66 3.83
        + Doanh nghiệp ngoài nhà nước 2.68 1.90 2.37 2.68 4.05
        + Doanh nghiệp FDI 2.57 1.72 3.21 2.54 3.68
Phân theo ngành kinh tế
   1. Nông, lâm nghiệp và thủy sản 3.07 1.98 2.16 2.52 3.91
   2. Công nghiệp và xây dựng 2.90 1.80 2.38 2.68 3.99
   3. Dịch vụ 2.52 1.95 2.45 2.67 4.05
 

Xếp theo điểm trung bình xếp hạng của toàn bộ doanh nghiệp, chi trả công cho lao động được đánh giá là gánh nặng lớn nhất đối với doanh nghiệp thời điểm hiện nay, với điểm số trung bình là 1,99 trên 5 (theo thang điểm từ 1 đến 5, trong đó: 1 là gánh nặng lớn nhất, điểm số càng nhỏ tương ứng với gánh nặng càng lớn); tiếp theo là chi trả lãi vay ngân hàng với 2,4 điểm; chi phí hoạt động thường xuyên khác là 2,67 điểm và cuối cùng là chi phí thuê mặt bằng 2,68 điểm. Xếp theo số lượng doanh nghiệp chọn loại chi phí là gánh nặng lớn nhất, thì khoản chi trả công cho lao động được nhiều doanh nghiệp chọn nhất, chiếm tới 40,3%, tiếp đến là chi trả lãi vay ngân hàng và chi thuê mặt bằng, với tỷ lệ lựa chọn lần lượt là 30,8% và 27,2%, cuối cùng là chi cho hoạt động thường xuyên khác 16,8%.

Tương tự xu hướng chung của toàn bộ doanh nghiệp, chi trả công cho lao động được doanh nghiệp đánh giá là gánh nặng lớn nhất, cũng là khoản chi được doanh nghiệp xếp hạng cao nhất. Khoản chi phí là gánh nặng thứ hai đối với doanh nghiệp là trả lãi vay ngân hàng (trừ khu vực doanh nghiệp FDI lựa chọn là các khoản chi thường xuyên khác).

  1. Các giải pháp doanh nghiệp đã áp dụng để ứng phó với dịch COVID-19

Để ứng phó với tác động của dịch Covid-19, doanh nghiệp đã phải áp dụng nhiều biện pháp như: điều chỉnh nguồn nhân lực, cắt giảm chi phí hoạt động SXKD, thay đổi phương thức cũng như chiến lược SXKD, thu hẹp SXKD hay thậm chí là tạm ngừng hoạt động.

Rất nhiều doanh nghiệp đã phải áp dụng các giải pháp tạm thời như cắt giảm lao động, cho lao động nghỉ việc không lương, cho lao động giãn việc/nghỉ luân phiên, giảm lương lao động, thu hẹp quy mô SXKD hoặc tạm ngừng hoạt động. Có tới 66,8% số doanh nghiệp bị tác động bởi dịch Covid đã phải áp dụng các giải pháp liên quan đến lao động. Giải pháp cho lao động giãn việc/nghỉ luân phiên có 39,5% doanh nghiệp lựa chọn, cao nhất trong các giải pháp về lao động, tương ứng với 22,8% tổng số lao động bị giãn việc/nghỉ luân phiên do tác động của dịch Covid-19 thời gian qua. Tiếp theo là biện pháp cắt giảm lao động, có  28,4% doanh nghiệp áp dụng, tương đương với 21,6% lao động bị mất việc làm. Các giải pháp cho lao động nghỉ không lương và giảm lương lao động cũng được một bộ phận doanh nghiệp áp dụng, với tỷ lệ lần lượt là 21,3% và 18,9%, tương đương với 7,5% và 9,0% tổng số lao động.

Biểu 3.1: Các giải pháp doanh nghiệp buộc phải áp dụng

để đối phó với tác động của dịch Covid-19

%
Có áp dụng các biện pháp liên quan đến lao động Cắt giảm
lao động
Cho lao động giãn việc/nghỉ luân phiên Cho lao động nghỉ không lương Giảm lương nhân công Tạm dừng hoạt động SXKD
A 1 2 3 4 5 6
               TOÀN QUỐC 66.8 28.4 39.5 21.3 18.9 19.9
 Phân theo quy mô doanh nghiệp
        + Doanh nghiệp siêu nhỏ 60.0 24.8 30.6 19.9 16.8 23.6
        + Doanh nghiệp nhỏ 75.3 33.3 48.3 23.8 21.3 16.9
        + Doanh nghiệp vừa 73.3 31.2 53.1 20.5 21.7 13.9
        + Doanh nghiệp lớn 70.3 27.5 53.9 19.5      19.3 11.4
 Phân theo loại hình doanh nghiệp
        + Doanh nghiệp nhà nước 71.1 25.9 47.1 18.4 23.1 20.3
        + Doanh nghiệp ngoài nhà nước 67.2 28.7 39.4 21.8 19.2 20.3
        + Doanh nghiệp FDI 56.5 23.3 39.1 13.8 10.7 13.1
Phân theo ngành kinh tế
   1. Nông, lâm nghiệp và thủy sản 61.2 24.9 36.9 15.4 14.2 14.9
   2. Công nghiệp và xây dựng 71.1 32.8 44.2 22.0 18.4 17.1
   3. Dịch vụ 64.3 25.6 36.6 21.3 19.4 22.1
 

 

Theo quy mô doanh nghiệp, nhóm doanh nghiệp có quy mô nhỏ và vừa là nhóm có tỷ lệ doanh nghiệp phải áp dụng các giải pháp về lao động nhiều nhất, lên tới hơn 73,0%, trong khi tỷ lệ này ở nhóm doanh nghiệp quy mô lớn là 70,3%, nhóm doanh nghiệp quy mô siêu nhỏ là thấp nhất với 60,0%. Cho lao động giãn việc/nghỉ luân phiên là giải pháp được các doanh nghiệp ưu tiên lựa chọn, trong đó các doanh nghiệp quy mô vừa và lớn áp dụng giải pháp này lên tới trên 53,0%. Tiếp theo là giải pháp phải cắt giảm lao động được các doanh nghiệp quy mô nhỏ và vừa áp dụng nhiều nhất so với các doanh nghiệp thuộc quy mô còn lại, chiếm lần lượt là 33,3% và 31,2%. Giải pháp cho lao động nghỉ không lương và giảm lương cũng được một bộ phận doanh nghiệp áp dụng và tỷ lệ áp dụng giữa các nhóm quy mô doanh nghiệp chênh lệch nhau không nhiều. Các giải pháp này đã ảnh hưởng không nhỏ đến người lao động.

Lao động của các doanh nghiệp chịu tác động của dịch Covid-19 bình quân quý I năm 2020 so với cùng kỳ năm trước của nhóm doanh nghiệp có quy mô siêu nhỏ, nhỏ và vừa chỉ đạt quanh mức 70,0%, và dự báo sẽ tiếp tục giảm trong tháng 4, đưa tỷ lệ lao động bình quân lao động 4 tháng đầu năm 2020 xuống đạt mức 65,0% so với cùng kỳ năm trước. Lao động của nhóm doanh nghiệp quy mô lớn bình quân quý I so với cùng kỳ ở mức 82,9% và ước tính bình quân 4 tháng đầu năm 2020 lao động sẽ giảm còn 79,0%. Lực lượng lao động của nhóm doanh nghiệp quy mô nhỏ và siêu nhỏ bị ảnh hưởng nhiều nhất, khi có tới 13,3% và 12,6% lao động tạm thời phải nghỉ việc không lương; 12,7% và 11,4% lao động bị giảm lương. Các doanh nghiệp quy mô vừa cũng có tỷ lệ lao động phải nghỉ không lương và giảm lương tương đối cao, chiếm lần lượt 10,9% và 12,3%. Xu hướng này ở các doanh nghiệp quy mô lớn được cải thiện hơn, chỉ có 5,7% lao động phải nghỉ không lương và 7,8% lao động bị giảm lương.

Theo loại hình doanh nghiệp, khu vực doanh nghiệp nhà nước có tỷ lệ doanh nghiệp áp dụng nhiều nhất các giải pháp về lao động, chiếm 71,1%, đây cũng là nhóm có tỷ lệ doanh nghiệp áp dụng giải pháp cho lao động giãn việc/nghỉ luân phiên cao nhất, chiếm 47,2%. Tỷ lệ doanh nghiệp áp dụng các giải pháp về lao động của khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước là 67,2%, khu vực doanh nghiệp FDI là 56,5%. Tỷ lệ doanh nghiệp cho lao động giãn việc/nghỉ luân phiên của hai khu vực này cùng đạt mức trên 39,0%.

Nền kinh tế bị đình trệ kéo theo nhu cầu về lao động của các doanh nghiệp sụt giảm đã dẫn đến tình trạng cắt giảm lao động ở tất cả các khu vực doanh nghiệp. Tỷ lệ doanh nghiệp cho lao động nghỉ việc nhiều nhất là khối doanh nghiệp ngoài nhà nước với tỷ lệ doanh nghiệp lên tới 28,7%; tiếp theo là khu vực doanh nghiệp nhà nước với 25,9% và cuối cùng là doanh nghhiệp FDI với 23,3%. Lao động làm việc trong các doanh nghiệp FDI có mức lương ổn định nhất so với các khu vực doanh nghiệp còn lại, chỉ 13,8% doanh nghiệp FDI áp dụng giải pháp cho lao động nghỉ không lương và 10,7% doanh nghiệp áp dụng giải pháp giảm lương nhân viên; trong khi tỷ lệ doanh nghiệp cho lao động nghỉ không lương và giảm lương ở khu vực doanh nghiệp nhà nước lần lượt là 18,4% và 23,1%; khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước là 21,8% và 19,2%.

Theo ngành kinh tế, công nghiệp và xây dựng có tỷ lệ doanh nghiệp áp dụng giải pháp cắt giảm lao động và cho lao động giãn việc/nghỉ luân phiên cao nhất, với tỷ lệ lần lượt là 32,8% và 44,2%; khu vực dịch vụ và khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản có tỷ lệ doanh nghiệp áp dụng hai giải pháp trên ở mức tương đương, khoảng 25,0% và 36,0%. Một số ngành công nghiệp trọng điểm cũng đang phải đối mặt với việc cắt giảm lao động, tỷ lệ lao động bình quân quý I/2020 so với quý I/2019 của các ngành da giầy, ô tô, may mặc, điện tử lần lượt là 70,1%, 78,2%, 84,1% và 89,2%. Tỷ lệ này ở một số ngành dịch vụ như ngành ăn uống, lưu trú và hàng không lần lượt là 61,5%, 72,1% và 83,4%. Lao động của ngành dịch vụ lưu trú và ăn uống đang bị ảnh hưởng rất nặng nề khi không chỉ tỷ lệ lao động bị sụt giảm mạnh, đồng thời số lượng lớn lao động khu vực này đang phải tạm nghỉ việc không lương hoặc bị giảm lương. Có tới 36,2% lao động ngành lưu trú và 33,8% lao động ngành ăn uống đang phải nghỉ không lương tại thời điểm hiện nay; cùng với đó là 26,9% lao động ngành lưu trú và 18,9% lao động ngành ăn uống bị giảm lương. Ngành hàng không tuy chỉ có 5,9% lao động phải nghỉ việc không lương, nhưng ngành này lại có tới 94,9% lao động bị giảm lương, bên cạnh đó cũng có một bộ phận không nhỏ lao động của ngành này đang phải áp dụng giải pháp giãn việc/nghỉ luân phiên, lên tới 64,7%.

Hiện có tới 19,9% doanh nghiệp đang phải tạm ngừng hoạt động trong tổng số những doanh nghiệp chịu ảnh hưởng của dịch Covid-19.

Theo quy mô, các doanh nghiệp quy mô siêu nhỏ có tỷ lệ tạm ngừng hoạt động  cao nhất với 25,6%.

Theo loại hình doanh nghiệp, các nhóm doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp ngoài nhà nước có tỷ lệ doanh nghiệp phải tạm ngừng hoạt động ở mức cao nhất, cùng đạt 20,3%.

Theo ngành kinh tế, dịch vụ hiện là khu vực có tỷ lệ doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động cao nhất với 22,1%. Trong khu vực dịch vụ, tỷ lệ trên đạt rất cao ở các nhóm ngành ăn uống, lưu trú và du lịch, với tỷ lệ lần lượt là 54,0%; 51,1% và 49,5%.

Tình hình dịch bệnh kéo dài dẫn đến kết quả SXKD của doanh nghiệp bị ảnh hưởng nặng nề. Doanh thu quý I/2020 của toàn bộ doanh nghiệp bị tác động từ dịch Covid-19 giảm mạnh xuốn còn 74,1% so với cùng kỳ năm trước và dự kiến 4 tháng đầu năm 2020 sẽ tiếp tục giảm xuống còn 69,6% so với cùng kỳ.

Theo quy mô, nhóm doanh nghiệp quy mô siêu nhỏ và nhỏ là hai nhóm có sự sụt giảm doanh thu mạnh nhất. Dự kiến doanh thu quý I/2020 so với cùng kỳ năm trước của hai nhóm doanh nghiệp này chỉ đạt 59,9% và 61,4%; nhóm ngành đại lý du lịch, giáo dục và đào tạo lưu trú, ăn uống và hàng không đều đang phải trải qua giai đoạn khó khăn khi doanh thu dự kiến 4 tháng đầu năm 2020 sẽ giảm mạnh so với cùng kỳ, chỉ còn lần lượt là 44,0%; 47,6%; 56,0%; 59,7% và 76,5%.

Bên cạnh đó, cũng có những doanh nghiệp mặc dù trong giai đoạn dịch bệnh khó khăn đã nhanh chóng chuyển hướng đi mới để kịp thời thích ứng với tình hình hiện tại, các biện pháp được doanh nghiệp thực hiện chủ yếu bao gồm: đẩy mạnh hoạt động thương mại điện tử, chuyển đổi mặt hàng sản phẩm chủ lực, tích cực tìm kiếm thị trường mới cho nguyên liệu đầu vào cũng như thị trường tiêu thụ đầu ra ngoài ngoài thị trường truyền thống. Bên cạnh đó, cũng có một bộ phận doanh nghiệp tận dụng thời điểm này để tổ chức đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn, tay nghề cho người lao động.

Giải pháp đào tạo, nâng cao trình độ chuyên môn/tay nghề cho người lao động trong thời điểm hiện nay đang được nhiều doanh nghiêp áp dụng, với tỷ lệ cao nhất 44,7%, tiếp theo là giải pháp tìm thị trường tiêu thụ đầu ra ngoài thị trường truyền thống, với 17,0%; kế đến là giải pháp tìm thị trường mới cho nguyên liệu đầu vào, với 7,7%. Ngoài ra hao giải pháp: chuyển đổi sản phẩm chủ lực và đẩy mạnh thương mại điện tử cũng được một bộ phận doanh nghiệp lựa chọn, với tỷ lệ 5,4% và 3,9%.

Theo quy mô, các doanh nghiệp quy mô lớn thường có thị trường đa dạng và tiềm lực kinh tế vững chắc hơn so với nhóm doanh nghiệp có quy mô nhỏ, vì vậy trong 5 giải pháp trên, tỷ lệ doanh nghiệp lớn áp dụng đều cao hơn so với nhóm doanh nghiệp có quy mô nhỏ hơn, và tỷ lệ áp dụng cho cả 5 giải pháp này giảm dần theo quy mô của doanh nghiệp. Tương tự, theo loại hình doanh nghiệp, doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp FDI có quy mô doanh nghiệp trung bình lớn hơn so với các doanh nghiệp ngoài nhà nước, vì vậy hầu hết các giải pháp trên, 2 khu vực doanh nghiệp này cũng áp dụng 5 giải pháp với tỷ lệ cao hơn so với khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước. Chi tiết được thể hiện ở bảng sau:

Biểu 3.2: Các giải pháp doanh nghiệp đã áp dụng

để đối phó với tác động từ dịch Covid-19

%
Đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn/tay nghề cho người lao động Đẩy mạnh thương mại điện tử Chuyển đổi sản phẩm chủ lực Tìm thị trường mới cho nguyên liệu đầu vào Tìm thị trường tiêu thụ sản phẩm đầu ra ngoài thị trường truyền thống
A 1 2 3 4 5
              CẢ NƯỚC 44.7 3.9 5.4 7.7 17.0
 Phân theo quy mô doanh nghiệp
        + Doanh nghiệp siêu nhỏ 40.0 3.8 4.3 5.5 15.3
        + Doanh nghiệp nhỏ 48.7 3.7 5.7 8.6 17.5
        + Doanh nghiệp vừa 52.2 4.6 7.7 12.6 21.3
        + Doanh nghiệp lớn 56.5 5.4 10.8 17.7 24.9
 Phân theo loại hình doanh nghiệp
        + Doanh nghiệp nhà nước 48.3 4.6 7.4 9.4 20.4
        + Doanh nghiệp ngoài nhà nước 44.5 3.9 5.1 7.2 16.7
        + Doanh nghiệp FDI 47.0 3.6 9.2 16.5 20.0
Phân theo ngành kinh tế
   1. Nông, lâm nghiệp và thủy sản 44.9 6.3 7.2 12.3 33.0
   2. Công nghiệp và xây dựng 46.2 4.3 6.2 11.0 18.7
   3. Dịch vụ 43.7 3.5 4.7 5.3 14.9

 

  1. Dự báo tình hình SXKD của doanh nghiệp nếu dịch Covid-19 tiếp tục kéo dài và các giải pháp dự kiến doanh nghiệp sẽ áp dụng trong thời gian tới

Nếu dịch bệnh tiếp tục kéo dài đến hết quý II, tỷ lệ doanh nghiệp phải tạm ngừng hoạt động SXKD hoặc thậm chí phá sản lên tới 23,1%, tỷ lệ này sẽ tăng lên 28,1% nếu dịch bệnh kéo dài đến hết quý III và tiếp tục tăng lên tới 35,4% nếu dịch bệnh kéo dài đến hết năm 2020.

Theo quy mô, doanh nghiệp có quy mô càng nhỏ, càng khó có thể trụ vững nếu tình hình dịch bệnh tiếp tục kéo dài. Dự kiến nếu dịch bệnh không được cải thiện cho đến hết quý II/2020, tỷ lệ doanh nghiệp phải tạm ngừng hoạt động hoặc phá sản đối với nhóm doanh nghiệp quy mô siêu nhỏ là 29,3%; doanh nghiệp nhỏ là 17,3%; doanh nghiệp vừa là 13,0%; doanh nghiệp lớn là 11,4%. Tình huống sẽ tiếp tục xấu đi nếu dịch bệnh kéo dài đến hết quý III/2020, tỷ lệ doanh nghiệp phải tạm ngừng kinh doanh hoặc phá sản đối với các doanh nghiệp đều tăng lên, cụ thể: Tỷ lệ doanh nghiệp quy mô siêu nhỏ là 33,3%; doanh nghiệp nhỏ là 23,4%; doanh nghiệp vừa là 19,6% và doanh nghiệp lớn là 18,4%. Nếu dịch bệnh kéo dài đến hết năm 2020, tỷ lệ doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động hoặc phá sản tăng mạnh lên mức 39,3% đối với doanh nghiệp quy mô siêu nhỏ, 32,1% đối với doanh nghiệp nhỏ, 28,6% đối với doanh nghiệp vừa và 26,0% đối với doanh nghiệp lớn.

Theo loại hình doanh nghiệp, khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước chủ yếu là các doanh nghiệp có quy mô nhỏ và siêu nhỏ nên thường là khu vực doanh nghiệp nhạy cảm, dễ bị tổn thương hơn so với khu vực doanh nghiệp nhà nước và khu vực doanh nghiệp FDI, vì thế khả năng duy trì hoạt động trước dịch bệnh kéo dài cũng yếu thế hơn. Dự kiến, nếu dịch bệnh kéo dài đến hết quý II, tỷ lệ doanh nghiệp ngoài nhà nước tạm ngừng hoặc phá sản là 23,5%; tỷ lệ tăng lên tương ứng 28,4% và 35,6% nếu dịch bệnh đến hết quý III và hết quý IV. Tỷ lệ doanh nghiệp nhà nước tạm ngừng hoặc phá sản cũng tăng lên theo thời gian kéo dài của dịch bệnh, dự kiến nếu dịch bệnh kéo dài đến hết quý II, quý III và quý IV lần lượt chạm mức 20,2%; 25,3% và 31,4%; tỷ lệ tương ứng của khu vực  doanh nghiệp FDI lần lượt là 15,6%; 23,9% và 32,8%.

Trong trường hợp dịch bệnh tiếp tục kéo dài, khu vực dịch vụ sẽ chịu nhiều ảnh hưởng nhất. Dự kiến ngành này có tỷ lệ doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh hoặc phá sảncủa ngành này ở mức cao nhất, với tỷ lệ 25,8% nếu dịch bệnh kéo dài đến hết quý II, tiếp tục tăng lên 29,9% và 36,2% nếu dịch kéo dài đến hết quý III và IV. Trong các ngành dịch vụ, với hai kịch bản dịch bệnh kéo dài hết quý III và hết năm thì ngành dịch vụ lưu trú và ăn uống dự báo có tỷ lệ doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh hoặc phá sản lên tới 58,9% và 60,5%; ngành giáo dục đào tạo có tỷ lệ tương ứng là 61,2% và 66,1%; ngành hoạt động của các đại lý du lịch là 65,2% và 68,6. Khu vực công nghiệp và xây dựng là khu vực tiếp theo chịu ảnh hưởng nặng nề do tác đọng của dịch Covid-19, với tỷ lệ doanh nghiệp tạm ngừng hoặc phá sản ở mức tương đối cao, chạm mức 17,0%; 25,1% và 34,8% với kịch bản dịch bệnh kéo dài đến hết quý II, quý III và quý IV. Trong các ngành thuộc công nghiệp và xây dừng, ngành may mặc sẽ có tỷ lệ doanh nghiệp tạm ngừng hoặc phá sản với mức khá cao 33,6% và 44,4% tương ứng với dịch bệnh kéo dài hết quý III và quý IV; tỷ lệ tương ứng của ngành da giầy là 34,0% và 44,9%; của ngành ngành điện tử là 10,7% cho kịch bản dịch bệnh kết thúc trong quý II, nhưng tăng nhanh vào quý III và IV với tỷ lệ lần lượt ở mức 20,1% và 32,2%; ngành sản xuất ô tô cũng có một kịch bản không mấy khả quan khi dự báo tỷ lệ doanh nghiệp phải tạm ngừng kinh doanh hoặc phá sản với tỷ lệ tương ứng là 14,2%; 22,8% và 37,8% cho 3 kịch bản trên.

Đứng trước những thách thức, thiệt hại do dịch bệnh kéo dài, doanh nghiệp buộc phải áp dụng nhiều giải pháp để tháo gỡ khó khăn như: đẩy mạnh thương mại điện tử, chuyển đổi sản phẩm chủ lực, đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn, tay nghề cho người lao động, tìm thị trường cung – cầu mới, giảm giá sản phẩm… Trong đó, giải pháp tìm kiếm thị trường tiêu thụ ngoài thị trường truyền thống và đẩy mạnh thương mại điện tử là hai giải pháp được nhiều doanh nghiệp lựa chọn nhất, với tỷ lệ doanh nghiệp lựa chọn tương ứng là 45,2% và 34,2%. Đặc biệt, thương mại điện tử được đánh giá là xu thế không thể thiếu trong hoạt động của doanh nghiệp trên toàn thế giới trong tương lai. Hai giải pháp trên cũng là những giải pháp được lựa chọn nhiều nhất của các nhóm doanh nghiệp quy mô siêu nhỏ, nhỏ và vừa, nhóm doanh nghiệp nhà nước và nhóm doanh nghiệp ngoài nhà nước. Trong khi đó, nhóm doanh nghiệp quy mô lớn và nhóm doanh nghiệp FDI lại đặt quan tâm hàng đầu vào giải pháp tìm kiếm thị trường cung-cầu mới, tiếp theo mới đến đẩy mạnh thương mại điện tử. Các giải pháp về chuyển đổi mặt hàng chủ lực, đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn, tay nghề cho người lao động và tìm kiếm thị trường nguyên liệu đầu vào có mức lựa chọn của doanh nghiệp tương đương nhau, xấp xỉ 20%. Bên cạnh đó, vẫn có một bộ phận doanh nghiệp, chiếm khoảng 10%, vẫn chưa tìm được giải pháp thích nghi và đang chờ đợi các giải pháp hỗ trợ từ Chính Phủ.

  1. Đánh giá mức độ phù hợp của các giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp theo Chỉ thị số 11/CT-TTg của Thủ tướng Chính Phủ

Mức độ tiếp cận Chỉ thị số 11/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ  về các nhiệm vụ, giải pháp cấp bách tháo gỡ khó khăn cho SXKD, bảo đảm an sinh xã hội ứng phó với dịch Covid-19 được ban hành ngày 04/03/2020, tính đến thời điểm điều tra có kết quả như sau:

  • 4% doanh nghiệp chưa biết tới Chỉ thị;
  • 21,2% doanh nghiệp đã biết tới Chỉ thị và đã được hướng dẫn nhưng chưa tiến hành thực hiện;
  • 64,6% doanh nghiệp đã biết tới Chỉ thị nhưng chưa biết đầu mối để tiếp cận chính sách;
  • Chỉ có 2,9% doanh nghiệp đã được tiếp nhận chính sách hỗ trợ.

 

Theo quy mô, nhóm doanh nghiệp có quy mô lớn có tỷ lệ doanh nghiệp đã được tiếp nhận chính sách hỗ trợ theo Chỉ thị 11/CT-TTg đạt tỷ lệ cao nhất với 8,7%, trong khi nhóm doanh nghiệp siêu nhỏ đạt tỷ lệ thấp nhất, với 2,1%; nhóm doanh nghiệp nhỏ và vừa đạt tỷ lệ lần lượt là 2,9% và 4,8%. Nhóm doanh nghiệp quy mô siêu nhỏ có tỷ lệ doanh nghiệp không biết đến Chỉ thị 11/CT-TTg cao nhất với 12.6%; tiếp đến là nhóm doanh nghiệp nhỏ với 10,2%; doanh nghiệp vừa với 9,5% và doanh nghiệp lớn với 8,8%.

Đáng quan ngại là dù đã biết tới Chỉ thị 11/CT-TTg có tới 64,6% doanh nghiệp trả lời chưa biết đầu mối để tiếp cận chính sách, cho thấy mức độ Chỉ thị của Thủ tướng ảnh hưởng và đi vào đời sống doanh nghiệp còn nhiều bất cấp. Doanh nghiệp vẫn phải loay hoay để tìm hướng tiếp cận, các kênh truyền thông cho Chỉ thị 11/CT-TTg chưa hiệu quả, kịp thời như mong đợi là một bài toán mà các cơ quan công quyền cần phải quan tâm và nỗ lực cải thiện trong thời gian tới.

Các nhóm giải pháp được đưa ra trong Chỉ thị 11/CT-TTg bao gồm 9 nhóm giải pháp chính: Cải cách thủ tục hành chính, rút ngắn thời gian xét duyệt hồ sơ vay vốn; Cơ cấu lại thời hạn trả nợ và các khoản nợ; Miễn, giãn, giảm lãi suất vay, phí ngân hàng; Miễn, giảm phí dịch vụ thanh toán điện tử; Gia hạn nộp thuế và tiền thuê đất; Tạm dừng đóng BHXH và kinh phí công đoàn; Giảm thủ tục hành chính và chi phí logistics; Không điều chỉnh tăng giá trong quý I, quý II năm 2020 đối với các mặt hàng là đầu vào cho sản xuất do nhà nước kiểm soát giá; Đa dạng hóa thị trường xuất nhập khẩu và tìm thị trường mới. Hầu hết các nhóm giải pháp này đều được doanh nghiệp đánh giá tương đối phù hợp, với điểm trung bình dao động trong khoảng từ 1,4 đến 1,9 điểm (theo thang điểm từ 1 đến 5, trong đó 1 là rất phù hợp và 5 là không phù hợp, điểm càng thấp, mức độ phù hợp càng cao) với tỷ lệ doanh nghiệp đánh giá là phù hợp ở mức khá cao, từ 73,0% đến 88,0%. Trong đó, giải pháp Không điều chỉnh tăng giá trong quý I, quý II năm 2020 đối với các mặt hàng là đầu vào cho sản xuất do nhà nước kiểm soát giá và giải pháp Miễn, giãn, giảm lãi suất vay, phí ngân hàng được nhiều doanh nghiệp ủng hộ nhất, điểm trung bình đạt 1,47 điểm và 1,48 điểm. Đây cũng là hai giải pháp có tỷ lệ đánh giá phù hợp cao nhất, với 87,4% và 87,0% doanh nghiệp đánh giá tích cực về các giải pháp. Giải pháp về gia hạn nộp thuế và tiền thuê đất cũng được đánh giá khá cao, với 1,54 điểm và được 84,9% doanh nghiệp đánh giá tích cực. Giải pháp Cải cách thủ tục hành chính, rút ngắn thời gian xét duyệt hồ sơ vay vốn và Cơ cấu lại thời hạn trả nợ và các khoản nợ đạt 1,61 điểm và 1,62 điểm, với khoảng 83,0% doanh nghiệp ủng hộ. Các giải pháp còn lại đạt số điểm và tỷ lệ đánh giá tích cực lần lượt như sau: Miễn, giảm phí dịch vụ thanh toán điện tử: 1,75 điểm và 78,0%; Tạm dừng đóng BHXH và kinh phí công đoàn: 1,80 điểm và 76,7%; Đa dạng hóa thị trường xuất nhập khẩu và tìm thị trường mới: 1,85 điểm và 75,2%; Giảm thủ tục hành chính và chi phí logistics: 1,89 điểm và 73,5%.

Theo quy mô, các nhóm doanh nghiệp đều đánh giá cao giải pháp Không điều chỉnh tăng giá trong quý I, quý II năm 2020 đối với các mặt hàng là đầu vào cho sản xuất do nhà nước kiểm soát giá và giải pháp Miễn, giãn, giảm lãi suất vay, phí ngân hàng, tỷ lệ doanh nghiệp đánh giá tích cực về hai giải pháp này ở mức cao nhất trong các giải pháp được đưa ra trong Chỉ thị 11/CT-TTg, với đạt ít nhất 84,3% trở lên ở các nhóm doanh nghiệp.

Theo loại hình doanh nghiệp, khu vực doanh nghiệp nhà nước và khu vực  doanh nghiệp ngoài nhà nước đều có mức độ ủng hộ cao nhất với hai giải pháp được nêu trên, tuy nhiên khu vực doanh nghiệp FDI lại quan tâm tới giải pháp Không điều chỉnh tăng giá và Gia hạn nộp thuế và tiền thuê đất hơn, với tỷ lệ doanh nghiệp đánh giá giải pháp là phù hợp lần lượt là 85,5 và 83,1%.

III. KẾT LUẬN

……………………

  1. GIẢI PHÁP HỖ TRỢ DOANH NGHIỆP VƯỢT QUA KHÓ KHĂN, TIẾP TỤC ỔN ĐỊNH VÀ PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT

Trong thời gian tới, ngoài những giải pháp hỗ trợ Chính phủ đã đưa ra, doanh nghiệp kỳ vọng sẽ tiếp tục được nhận những giải pháp hỗ trợ thiết thực hơn nữa từ Chính Phủ, trở thành động lực cho doanh nghiệp vượt qua khó khăn, khôi phục và ổn định sản xuất. Trong đó, các nhóm giải pháp dự kiến đề xuất được nêu trong bảng hỏi đã được doanh nghiệp đánh giá tích cực với tầm quan trọng cao, bao gồm: Tạm dừng hoạt động thanh, kiểm tra; Miễn, giảm lãi suất vay vốn; Miễn, giãn, giảm các loại thuế; Cải cách quy trình, thủ tục để doanh nghiệp tiếp cận các chính sách hỗ trợ đơn giản, thuận tiện; Cắt giảm một số loại thuế, phí, lệ phí cơ sở hạ tầng: phí lưu thông, phí cầu đường, bến bãi; Miễn, giảm giá thuê mặt bằng sản xuất,….

Các giải pháp đề xuất được doanh nghiệp đánh giá là quan trọng (theo thang điểm từ 1 đến 5, trong đó 1 là rất quan trọng, 5 là không quan trọng), cụ thể:

  • Miễn, giảm thuế, tiền thuê đất, với điểm quan trọng đạt 1,45 điểm;
  • Miễn, giảm lãi suất đối với các khoản tín dụng trước đây, đạt 1,46 điểm;
  • Cải cách quy trình, thủ tục để doanh nghiệp tiếp cận các chính sách hỗ trợ đơn giản, thuận tiện, đạt 1,47 điểm;
  • Cắt giảm một số loại thuế, phí, lệ phí cơ sở hạ tầng: phí lưu thông, phí cầu đường, bến bãi, đạt 1,51 điểm;
  • Tạm dừng hoạt động thanh tra, kiểm tra doanh nghiệp, đạt 1.53 điểm;
  • Miễn, giảm giá thuê mặt bằng sản xuất, đạt 1,59 điểm;
  • Thúc đẩy nhanh việc tìm thị trường nguyên liệu/thị trường tiêu thụ mới cho doanh nghiệp, đạt 1,62 điểm.

Ngoài ra, doanh nghiệp còn đề xuất thêm các giải pháp kỳ vọng cũng như mong muốn cải thiện các giải pháp đã được nêu ra trong Chỉ thị 11/CT-TTg, bao gồm:

  • Xem xét mở rộng đối tượng được áp dụng trong các giải pháp hỗ trợ đã ban hành của Chỉ thị 11/CT-TTg;
  • Văn bản hướng dẫn cho các chính sách hỗ trợ của Chỉ thị 11 cần rõ ràng, nhanh chóng, dễ hiểu; nhiều chính sách hỗ trợ vẫn chưa được thực thi do chưa có hướng dẫn cụ thể của Chính Phủ; trong đó, doanh nghiệp đánh giá giảm lãi suất vay và giãn nợ là giải pháp cấp bách đối với doanh nghiệp tuy nhiên hầu hết các Ngân hàng đều chưa triển khai thực hiện;
  • Cho vay ưu đãi với lãi suất 0% hoặc hoặc hỗ trợ một phần chi phí trả công cho lao động để doanh nghiệp duy trì được nguồn lao động hiện có; hỗ trợ cho những lao động đang bị tạm nghỉ việc không lương của doanh nghiệp chứ không chỉ bao gồm lao động thất nghiệp như hiện nay;
  • Cắt giảm các thủ tục thanh toán liên quan đến đến các đơn vị hành chính của cơ quan Nhà nước như Kho bạc, Thuế,…;
  • Thực hiện các biện pháp kích cầu sau khi dịch Covid-19 qua đi;
  • Đẩy mạnh Chính phủ điện tử, gửi văn bản hướng dẫn thủ tục tiếp cận các chính sách hỗ trợ đến từng doanh nghiệp qua hòm thư điện tử hoặc đăng tải thông tin hướng dẫn chi tiết, công khai, minh bạch, rõ ràng và cụ thể trên trang thông tin của Chính phủ;

 

Tải báo cáo

Phục lục số liệu

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *