Kết quả Điều tra biến động dân số và Kế hoạch hóa gia đình thời điểm 1/4/2017

By | 13/06/2019

1. Ước tính số hộ cả nước có đến 1/4/2017 là 25.217.712 hộ. Quy mô hộ từ 2 đến 4 người là phổ biến ở Việt Nam (chiếm 65,0% tổng số hộ).

2. Tổng dân số ước tính có đến 1/4/2017 đạt 93.425 nghìn người, trong đó dân số thành thị chiếm 34,9%, dân số nông thôn chiếm 65,1%, dân số nam chiếm 49,3% và dân số nữ chiếm 50,7% trong tổng dân số. Mật độ dân số Việt Nam là 282 người/km2 , đứng thứ ba ở khu vực Đông Nam Á và đứng thứ 14 trong số 49 quốc gia và vùng lãnh thổ khu vực châu Á.

3. Tỷ trọng dân số trong độ tuổi lao động (15-64 tuổi) chiếm 68,0%. Tỷ số phụ thuộc chung là 47,1%. Chỉ số già hoá là 53,4%.

4. Tỷ trọng dân số từ 15 tuổi trở lên đã từng kết hôn của cả nước là 77,8%, trong đó số người có vợ/chồng chiếm 68,4% trong tổng dân số từ 15 tuổi trở lên. Tuổi kết hôn trung bình lần đầu (SMAM) chung của hai giới là 25,3 năm, của nam là 27,4 năm và của nữ là 23,1 năm.

5. Có 22,3% dân số từ 5 tuổi trở lên đang đi học. Chỉ có 3,8% dân số từ 5 tuổi trở lên chưa bao giờ đi học. Tỷ lệ biết chữ của dân số từ 15 tuổi trở lên là 95,1%. Tỷ lệ biết chữ của dân số thành thị cao hơn dân số nông thôn.

6. Số người có trình độ học vấn từ trung học cơ sở trở lên chiếm hơn 50% dân số từ 5 tuổi trở lên. Tỷ trọng những người có trình độ học vấn cao nhất là đai ho ̣ c ̣ trở lên chiếm 8,7%, còn tỷ trọng của những người không có chuyên môn kỹ thuật chiếm 81% trong tổng dân số từ 15 tuổi trở lên.

7. Tỷ lê ṣử dung BPTT b ̣ ất kỳ đat 76,4%, t ̣ ăng dần từ nhóm tuổi 15-19 và đạt giá trị cực đại tại nhóm tuổi 40-44. Tỷ lệ sử dụng BPTT hiện đại đạt 65,6%.

8. Trong số những phụ nữ hiện không sử dụng các BPTT, lý do muốn có con chiếm 43,1%, lý do đang mang thai chiếm 14%.

9. Tỷ lệ phụ nữ 15-49 tuổi hiện đang có chồng có nạo/phá thai và hút điều hòa kinh nguyệt trong 12 tháng trước thời điểm điều tra ở khu vực thành thị cao hơn khu vực nông thôn là 0,2%.

10. Tỷ lệ khám thai ít nhất 1 lần của phụ nữ 15-49 tuổi đối với lần sinh gần nhất là 96,9%. Tỷ lệ này của khu vực nông thôn thấp hơn của khu vực thành thị 2,5 điểm phần trăm (96,1% so vớ i 98,6%).

11. Theo kết quả điều tra năm 2017, tổng tỷ suất sinh (TFR) đạt 2,04 con/phụ nữ. TFR của khu vực thành thị là 1,77 con/phụ nữ thấp hơn con số 2,19 con/phụ nữ 12 của khu vực nông thôn. Tỷ suất sinh thô (CBR) là 14,9 trẻ sinh sống/1000 dân, con số đó của thành thị là 14 trẻ sinh sống/1000 dân, thấp hơn của nông thôn (15,4 trẻ sinh sống/1000 dân).

12. Năm 2017, tỷ số giới tính khi sinh (SRB) duy trì ở mức khá cao với 112,1 bé trai/100 bé gái. Từ năm 2009 đến nay, mặc dù đã có nhiều cảnh báo về hệ lụy của sự mất cân bằng giới tính khi sinh nhưng tình trạng này vẫn chưa được khắc phục.

13. Tỷ lệ phụ nữ sinh con thứ ba trở lên trong cả nước là 17,3% năm 2017. Phần đông các bà mẹ biết giới tính trước khi sinh khi thai từ 15 đến 28 tuần (74,2%). Số bà mẹ biết giới tính trước khi sinh khi thai trên 28 tuần chiếm tỷ lệ thấp nhất (1,8%). Điều đó chứng tỏ khi mang thai, hầu hết phụ nữ đã có tâm lý muốn biết sớm giới tính thai nhi. Mong muốn phụ nữ sinh con trai có xu hướng cao hơn so với việc sinh con gái. Hầu hết phụ nữ đều biết giới tính khi sinh của thai nhi bằng phương pháp siêu âm, công cụ chuẩn đoán hiệu quả và hiện đại.

14. Tỷ suất chết thô (CDR) của cả nước năm 2017 là 6,8 người chết/1000 dân, trong đó của thành thị là 6 người chết/1000 dân, của nông thôn là 7,3 người chết/1000 dân.

15. Tỷ suất chết trẻ em dưới 1 tuổi còn 14,4 trẻ em dưới 1 tuổi chết/1000 trẻ sinh sống. Tỷ suất chết trẻ em dưới 1 tuổi của Việt Nam đã giảm thấp nhất kể từ năm 2005 đến nay.

16. Mức độ chết trẻ em dưới 5 tuổi của cả nước đã giảm đáng kể (năm 1999 là 56,9‰ giảm xuống còn 22,4‰ vào năm 2014, đến năm 2015 là 22,12‰ và đến năm 2017 là 21,6‰).

17. Phần lớn các trường hợp chết xảy ra trong 12 tháng trước thời điểm điều tra là do bệnh tật (81,9%). Tỷ trọng chết vì các loại tai nạn chiếm 6,9%, tỷ trọng chết vì các nguyên nhân khác chiếm 10,1%. Trong số các trường hợp chết do tai nạn, tai nạn giao thông chiếm tỷ trọng lớn nhất, cao gấp 3 lần so với tai nạn lao động (tương ứng là 3,9% và 1,3%).

18. Tuổi thọ trung bình chung là 73,5 tuổi, tuổi thọ trung bình của nam giới là 70,9 tuổi, thấp hơn của nữ giới là 76,2 tuổi.

19. Số lượng người di cư giữa các vùng giảm 49.995 người so với năm 2016. Bên cạnh yếu tố sức hút về việc làm, khoảng cách địa lý là một trong những yếu tố ảnh hưởng lớn đến di cư. Đa số những người di cư chọn điểm đến là những địa điểm gần với nơi thực tế thường trú trước đây. Tỷ suất di cư của những người trong nhóm tuổi 20-24 là cao nhất, tiếp đến là những người trong nhóm tuổi 25-29 và 15-19.

Tải về tại link dưới đây

Kết quả chủ yếu Điều tra biến động dân số và Kế hoạch hóa gia đình thời điểm 01/4/2017

Nguồn: Tổng cục thống kê

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *