Kết quả tổng điều tra nông nghiệp, nông thôn năm 2020

By | 21/09/2021

Cuộc điều tra nông thôn, nông nghiệp giữa kỳ năm 2020 tiến hành vào thời điểm 01/7/2020 theo Quyết định số 1695/QĐ-TCTK ngày 31/12/2019 của Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê. Đây là cuộc điều tra chọn mẫu quy mô lớn trên phạm vi cả nước với mục đích: (1) Thu thập thông tin tổng hợp, biên soạn các chỉ tiêu về nông thôn, nông nghiệp trong Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia; (2) Cung cấp thêm thông tin thống kê phục vụ việc đánh giá kết quả thực hiện Kế hoạch phát triển nông thôn, nông nghiệp giai đoạn 2016 – 2020; xây dựng Kế hoạch giai đoạn 2021 – 2025; đồng thời đáp ứng các nhu cầu khác về thông tin thống kê phân tích, dự báo tình hình nông thôn, nông nghiệp và nông dân; (3) Cập nhật cơ sở dữ liệu thống kê về nông thôn, nông nghiệp và xây dựng dàn mẫu cho một số cuộc điều tra mẫu trong lĩnh vực nông thôn, nông nghiệp. Trên cơ sở kết quả điều tra, dưới đây Tổng cục Thống kê khái quát một số nội dung chủ yếu về tình hình kinh tế – xã hội nông thôn và sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản những năm 2016 – 2020.

Theo kết quả điều tra, tại thời điểm 01/7/2020 khu vực nông thôn cả nước có 8.297 xã với 66.206 thôn (ấp, bản). So với 01/7/2016, giảm 681 xã và 13.692 thôn. Sự biến động số xã là kết quả thực hiện các nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về sắp xếp đơn vị hành chính cấp xã, phường, thị trấn ban hành trong những năm 2016 – 2020. Theo đó, giữa 2 kỳ điều tra, có 2 xã tăng do chia tách; 465 xã sáp nhập thành xã quy mô lớn hơn và 218 xã chuyển thành phường, thị trấn.

Số hộ và số nhân khẩu khu vực nông thôn có sự biến động khác biệt so với xu hướng thu hẹp về số xã, thôn. Tại thời điểm 01/7/2020, khu vực nông thôn cả nước có 16.880,47 nghìn hộ dân cư với 62.885,27 nghìn nhân khẩu. Tính ra, trong 5 năm (2016 – 2020), khu vực nông thôn tăng 5,59% về số hộ và tăng 9,05% về số nhân khẩu. Có nhiều nguyên nhân dẫn tới sự gia tăng cư dân nông thôn. Đối với số hộ, có sự chia tách hộ; đồng thời quá trình phát triển kinh tế – xã hội và đô thị hóa nông thôn, nhất là địa bàn nông thôn có khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu chế xuất, trung tâm thương mại, dịch vụ đã thu hút ngày càng nhiều lao động và theo đó là hộ dân cư từ khu vực thành thị trở về quê hương lập nghiệp hoặc đến định cư. Đối với số nhân khẩu, ngoài những nguyên nhân chủ yếu nêu trên còn có sự gia tăng quy mô hộ gia đình, từ mức bình quân 3,61 người/hộ năm 2016 lên 3,73 người/hộ năm 2020.

Số xã, thôn và số hộ, nhân khẩu nông thôn qua 2 kỳ điều tra 2016 và 2020

Đơn vị tính          2016       2020 Năm 2020 so với 2016 (%)
Số xã 8.978 8.297 92,41
Số thôn Thôn 79.898 66.206 82,86
Số hộ Nghìn hộ 15.987,53 16.880,47 105,59
Số nhân khẩu Nghìn người 57.668,91 62.885,27 109,05
Số hộ bình quân 1 xã Hộ 1.780,75 2.034,53 114,25
Số hộ bình quân 1 thôn Hộ 200,10 254,97 127,42
Số nhân khẩu bình quân 1 xã Người 6.423,36 7.579,28 118,00
Số nhân khẩu bình quân 1 thôn Người 721,78 949,84 131,60
Số nhân khẩu bình quân 1 hộ Người 3,61 3,73 103,32

 

Tải file số liệu đầy đủ

 

Nguồn: GSO